Ao làng – Không gian văn hoá làng quê Việt

ao-lang-khong-gian-van-hoa-lang-que-viet-1

Những đứa trẻ đắm mình trong ao quê. Nguồn ảnh: aoque

Mái đình – cây đa – ao làng là những hình ảnh rất đỗi thân thương, ăn sâu vào tiềm thức và nỗi nhớ con người ở các làng quê từ thời thơ ấu cho đến lúc về già. Làm sao quên được “Nhớ những ngày trốn học đuổi bướm cầu ao, Mẹ bắt được… chưa đánh roi nào đã khóc!”…

Theo dòng lịch sử quay về thời lập nước, từ trung du người Việt cổ di cư xuống đồng bằng. Nơi đây là một vùng đất phù sa được bồi đắp hàng năm lan ra biển, đất đai lầy lội, mùa mưa nước ngập trắng xóa mênh mông những cánh đồng. Để có thể sinh tồn được trên vùng đất này, người Việt cổ phải làm những ngôi nhà có nền cao hơn mực nước ngập để cư trú trong mùa mưa lũ. Đất đào lên tạo một nền nhà cao và nơi vượt đất chính là chỗ trũng chứa nước. Đây chính là những cái ao sơ khai mà đi đâu trên khắp đất nước Việt Nam ta cũng bắt gặp.

Ao làng nằm ở đầu làng, cạnh con đường chính. Ao rộng và sâu, chỗ nông nhất cũng ngập ngang bụng người lớn. Nước ao trong vắt, là nơi thoát nước về mùa mưa, trữ nước về mùa khô, cung cấp nước ăn cho dân làng, là môi trường sống bình yên của lũ tôm, cua, cá, là lá phổi khổng lồ điều hòa khí hậu. Mang những cơn gió mát lành ru ngủ những giấc trưa hè oi ả.

Bờ ao thường được “điểm tô” bằng các loài cây quen thuộc như cây vối, cây sung, rặng cúc tần cổ tích… Tán cây xòe bóng soi mình đỏm dáng xuống mặt ao, thỉnh thoảng có cơn gió nhẹ, mặt nước rung rinh cuốn xoay xoay những chiếc lá khô mới lìa cành. Một góc ao được bắc giàn để cho những quả bầu, quả mướp “núng niếng” rủ xuống. Khi hoa mướp nở vàng ruộm cả một góc ao, hương hoa tỏa đi, quyến rũ gọi đến cơ man nào những cánh bướm. Dưới nước, một vài chú cá “nghịch ngợm” nhẩy lên đớp thi những bông hoa mướp rụng. Góc ao khác lại được thả bèo, thả rau muống. Rau bèo cho những chú lợn “phàm ăn” còn rau muống cho những người nông dân chăm chỉ, cần cù “Vạt cây khoai nước nắng chiều ao con, Bè rau muống trổ mầm non, Mặt ao cá lượn trôi tròn chép hoa”.

ao-lang-khong-gian-van-hoa-lang-que-viet-2

Bờ ao còn được duyên dáng hơn nhờ những chiếc cầu ao tre mà người dân Việt sáng tạo trong cách bắc. Một đầu ở trên bờ, một đầu bắc sang cái thang đã cắm sâu dưới lòng ao. Cầu ao ấy là nơi ngồi nghỉ, hàn huyên mỗi lúc làm đồng về, là nơi để chàng trai lấy cớ đánh tiếng làm quen cô gái có đôi chân trắng ngần đảm đang ẩn hiện dưới làn nước xanh trong khiến tim anh xao xuyến: “Có rửa thì rửa tay chân, Chớ rửa lông mày chết cá ao anh”. Để rồi, bao đêm trăng sáng, nơi bờ ao ấy lại chứng kiến bao đôi trai gái tự tình, rồi nên duyên vợ chồng. Đến ngày vu quy, xác pháo hồng phủ đầy mặt ao đang gợn sóng bóng người liêu xiêu như chếnh choáng men say hạnh phúc.

Những ngày giáp tết Nguyên Đán, ao làng thực sự trở thành ngày hội. Tiếng trống giục giã, tiếng tù và kêu gọi hòa vào những bước chân rậm rịch, hối hả chuẩn bị nơm, vó, rổ, rập đi đánh cá ao làng. Cá được thả thường là giống cá mè, cá chép, cá trắm, cá trôi vì chúng nuôi mau lớn. Những chàng trai lực điền vạm vỡ, nhịp nhàng múc từng chiếc gầu sòng cho đến khi nước cạn. Cái gầu đã đi vào câu hát dân ca: “Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”. Mỗi khi bắt được những chú cá to, tiếng reo vui rộn rã vang động cả một góc làng.  Nhìn những chú cá chép trắng nõn nà có cái đuôi đo đỏ, cá trắm đen trũi vùng vẫy tung tóe bùn nước mà sướng cả mắt quên hết mệt nhọc lúc tát ao. Không phải tất cả đều lấy, chỉ chọn những con to, còn lại thả tiếp dành đến tết sang năm. Mọi người hoan hỉ chia cá cho nhau mà trong lòng khấp khởi vui sướng năm nay có cái tết to. Tết ở quê bao giờ cũng phải có nồi cá kho làm món chủ đạo và thắp hương dâng tổ tiên để cầu mong một năm mới mùa màng, tôm cá bội thu. Nhìn bát cá kho vàng nâu mầu mật mía thơm lừng hương mía quyện với mùi riềng bốc khói nghi ngút trên bàn thờ trong ngày mùng 1 tết mới thấy hết được ý nghĩa và vai trò của ao trong đời sống người dân quê. Đúng là: “Nhất canh trì, nhì canh điền, ba canh ruộng” – nhất thả cá, nhì làm vườn, ba làm ruộng, rồi “ao cá gá bạc”.

ao-lang-khong-gian-van-hoa-lang-que-viet-3

Khi có khách quý đến nhà, chủ nhà lấy vó cất một vài con cá tươi, xử lý thật nhanh, uống rượu ngay bên bờ ao. Gió mát hiu hiu, vừa có rượu ngon lại có bạn hiền và đồ nhắm thơm thơm… chén rượu cứ vơi lại đầy… để rồi quên cả thời gian, lối về… một “bữa tiệc” khó quên. Vì thế mà ca dao có câu: “Ao ta ta thả cá chơi/ Vườn rộng nuôi vịt vườn khôi nuôi gà/ Quanh năm khách khứa trong nhà/ Ao vườn sẵn có lọ là tìm đâu”.

Ao làng ngày tết còn là nơi mọi người í ới gọi nhau mang lá rong ra cọ, mang đỗ xanh ra đãi vỏ. Nhiêù người chung nhau một con lợn và mổ thịt ngay bên bờ ao, chia thịt, luộc lòng… Tiếng trẻ con chí chóe trêu đùa, tiếng các bà vừa rửa lá rong vừa rì rào kể chuyện về những nỗi vất vả, những niềm vui trong năm cũ sắp qua đi, tiếng cười giòn tan của những chàng trai cô gái đang tuổi cập kê kể cho nhau nghe chuyện cười… cứ thế, cứ thế tạo nên một khung cảnh đầm ấm, ân tình, mùi tết tràn về ngập đất trời. Xuân về bên bờ ao, làng mở hội thi nấu cơm, thi bịt mắt đánh trống, đập niêu, thi bắt vịt bơi trên mặt nước… Những trò chơi dân gian truyền thống thu hút đông đảo trai gái trong làng tham gia, làm tiêu tan đi những nhọc nhằn, tất bật quanh năm với đồng ruộng.

Những mùa cá bội thu

Những mùa cá bội thu

 

Qua bao năm tháng, ao làng vẫn luôn là nơi tìm về của miền ký ức. Để đắm chìm với tuổi thơ: “Ao làng vẫn nở hoa sen/ Bờ ao có chú dế mèn vuốt râu” lắng đọng thương yêu vô cùng. Một cuộc sống thanh đạm nhưng ung dung, nhàn tản trong cảnh thanh bần của bất kỳ người Việt Nam nào ở mỗi làng quê: “Còn ao rau muống, còn đầy chum tương”.

 

Ngọc Lâm
TapchiMonngon.com

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC