Bảo tồn giá trị văn hoá đi đối với phát triển ở làng cổ đồng bằng sông Hồng (qua trường hợp: Làng Nôm, Hưng Yên)

Tác giả: TS. Lê Quỳnh Chi

Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng

( Bài viết được trích trong kỷ yếu hội thảo Quy hoạch làng xã nông thôn ĐBSH tầm nhìn 2030 theo hướng phát triển xanh, bền vững).

1.Nhận diện giá trị văn hoá ở làng cổ đồng bằng sông Hồng

Làng xã đồng bằng sông Hồng có lịch sử lâu đời. Theo nhiều tài liệu khảo cổ học và sử học thì cách đây khoảng hơn 3000 năm, lần theo dòng chảy của các con sông, tổ tiên người Việt từ những vùng núi đã tràn xuống đồng bằng. Hệ thống làng dày đặc được phân bố trên khắp vùng tam giác châu thổ, từ đỉnh Việt Trì chạy dọc theo hai cạnh xuống tận ven biển Hải Phòng – Quảng Yên, Ninh Bình – Nam Định. Trong số các làng ấy, có không ít làng mang tên Nôm là từ Kẻ đi kèm với tên nôm khác như Kẻ Mía, Kẻ Noi , Kẻ Chèm, Kẻ Vẽ, Kẻ Mỗ, Kẻ Ngà… vốn là những làng cổ, ra đời trong quá trình khai phá vùng đồng bằng của các cư dân người Việt và tồn tại bền vững đến tận ngày nay. Các làng xã vùng Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh…có lịch sử hình thành khoảng từ 1000 – 4000 năm. Các làng xã ở Nam Định, Thái Bình hình thành muộn hơn. (Gourou, 1936).

Văn hoá nông thôn làng xã được trải nghiệm qua thời gian lịch sử, luôn được bổ sung bởi sự sáng tạo của người dân kết hợp với sự giao thoa văn hoá từ bên ngoài, tạo nên bản sắc riêng biệt cho cộng đồng làng xã ĐBSH. Văn hóa nông thôn làng xã truyền thống thể hiện qua hai thành tố cơ bản, đó là văn hóa vật thểvăn hóa phi vật thể. Các yếu tố văn hoá vật thể bao gồm:* Luỹ tre, cổng làng, điếm canh…: Đây vốn xưa kia là những công trình phòng thủ của làng xã, bảo vệ an ninh lối xóm* Cây đa, giếng nước, mái đình: được coi là bộ 3 văn hóa cổ truyền” tạo nên hình ảnh đặc trưng của làng xã truyền thống Việt Nam. * Những đình miếu, chùa chiền, tự vũ: là những trung tâm văn hóa, tôn giáo – tín ngưỡng truyền thống mang sắc thái địa phương, vùng miền đặc sắc. * Những ngôi nhà thờ họ* Những xưởng nghề thủ công truyền thống * Những con đường làng lát gạch đỏ au, những mái nhà sau tàn cây tán lá. Các yếu tố văn hóa phi vật thể bao gồm:* Hương ước, lệ tục làng xã, bộ luật truyền thống của làng nhằm cố kết các cá nhân trong cộng đồng làng xã; rèn cặp con người tuân theo những lề luật * Phong tục tập quán, lối sống, nếp sống cộng đồng * Những hội hè đình đám * Các hình thức diễn xướng dân gian* Văn hóa ẩm thực làng xã * Không khí trong lành, bình yên nơi thôn xóm (Dương Văn Sáu, 2013)

2.Mô hình du lịch văn hoá – kinh nghiệm bảo tồn đi đôi với phát triển làng cổ tại các nước trên thế giới

Du lịch văn hoá được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa bao gồm các hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương. Theo quan điểm của Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS) thì du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ (Trần Thúy Anh, 2011, 7). Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn, tôn tạo. Loại hình này trên thực tế đã chứng minh cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa-kinh tế-xã hội.Theo Luật Du lịch (2005), du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống của dân tộc kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa của như khách quốc tế. Với những khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. (Trần Thuý Anh, 2013)

Mô hình du lịch văn hoá tại các làng cổ đã được triển khai ở rất nhiều nước trên thế giới. Tại các làng cổ của Pháp như làng cổ Saint Benoit du Saul được xây dựng từ thời Trung Đại, làng Saint-Cirq-Lapopie được xây dựng từ thế kỉ 13, việc bảo tồn làng được gắn với du lịch trải nghiệm. Cảnh quan của ngôi làng được giữ hoàn toàn nguyên vẹn, không nhận thấy bất cứ một dấu hiệu hiện đại nào tại đây. Dây diện, dây cáp dấu dưới mái hiên hay lớp đá rải, cột ăng ten giấu trong chuồng chim bồ câu… ngôi làng không thấy sự xuất hiện của chảo vệ tinh, biển quảng cáo, hay đèn neon. Các ngôi nhà cổ được sử dụng thành khách sạn mini. Khách du lịch được sống tại khung cảnh thôn quê, đi bộ trên những con đường đá nhỏ, ăn những món ăn làng quê..giống như việc được quay lại với quá khứ. Tại Trung Quốc, du lịch văn hoá cũng được thực hiện tại rất nhiều làng, ví dụ như làng cổ Tô Châu và làng Gia Cát Lượng. Doanh thu từ lệ phí du lịch của làng được quay vòng cho việc bảo tồn, tôn tạo, và phát triển cơ sở hạ tầng. Cơ chế mời gọi các nhà đầu tư tư nhân trong công tác bảo tồn làng cổ đã tạo nên hiệu quả đáng kể, đặc biệt tại các khu vực kinh phí đầu tư công hạn hẹp.

lang nom1 Sidewalk Cafe in St.-Cirq-Lapopie lang nom3
Làng cổ Saint Benoit du Saul, Pháp Làng Saint-Cirq-Lapopie, Pháp Làng Đồng Lý – Tô Châu, Trung Quốc

3.Bảo tồn các giá trị văn hoá và phát triển – trường hợp làng Nôm

Giới thiệu

Làng Nôm hay còn gọi là làng Đại Đồng trước đây có tên là làng Đồng Cầu, sau cải là làng Thông thuộc trang Đồng Xá, tổng Đình Tổ, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc, nay thuộc xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đây là một ngôi làng cổ còn bảo tồn được nhiều giá trị văn hóa truyền thống, được các chuyên gia về kiến trúc, nghệ thuật đánh giá là một không gian văn hóa đậm đặc những nét đặc trưng của cộng đồng dân cư đồng bằng sông Hồng… Trong số các biểu tượng văn hóa, Đình Đại Đồng (đình Tam Giang), Chùa Nôm và Chợ Nôm tạo thành một quần thể văn hóa truyền thống nổi bật,là biểu tượng tiêu biểu cho Làng Nôm. Đình Đại Đồng (hay còn gọi là đình Nôm, đình Tam Giang) được bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia

Vị trí làng Nôm

Vị trí làng Nôm

ngày 22/2/1994. Chùa Nôm hay chùa Đại Đồng, có tên chữ là Linh Thông cổ tự được xây dựng từ rất lâu. Đến nay, hầu hết các công trình kiến trúc trong chùa còn được bảo tồn khá nguyên vẹn và được đánh giá là ngôi chùa cổ đẹp nhất và còn được bảo tồn tốt nhất trên tỉnh Hưng Yên. Chùa đã được công nhân là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1994.

Ngoài ra, làng Nôm còn có hệ thống các công trình kiến trúc cổ như nhà cổ, nhà thờ họ được bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Tất cả tạo thành một không gian văn hóa đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ – một quần thể văn hóa lịch sử truyền thống. Tổng diện tích làng bao gồm cả đất nông nghiệp là 58,61 ha, với dân số là 674 người.

Giá trị văn hoá vật thể

Về mặt cấu trúc: Làng Nôm là một hệ thống nhất hoàn chỉnh tiêu biểu cho đơn vị ngụ cư của cộng đồng dân cư đồng bằng sông Hồng. Cấu trúc của làng bao gồm 3 thành phần chính: khu vực ngoài làng (đồng ruộng, chùa, chợ làng, cầu Nôm), khu vực vùng biên (cổng làng và các ranh giới mềm như ao làng, dòng sông), khu vực trong làng. Đối với khu vực trong làng, cấu trúc giao thông chủ yếu vẫn giữ cấu trúc hình xương cá. Nằm dọc theo các tuyến ngõ điểm xuyết các ngôi nhà cổ, nhà thờ họ, các công trình nhà ở thấp tầng mang dáng dấp không gian cảnh quan xưa. Đặc biệt, cảnh quan khu vực trung tâm được lưu giữ với đình làng, ao làng, và con đường lát gạch cổ chạy vòng quanh.

n10

Cấu trúc làng Nôm

Công trình công cộng lịch sử

Chùa Nôm hay còn gọi là Linh Thông cổ tự được xây dựng năm 1680, dưới thời Hậu Lê, từng là ngôi đại tự hoành tráng nhất miền Kinh Bắc và hiện còn bảo tồn nhiều cổ vật quý như tấm hoành phi thời Khải Định, bia thời Tây Sơn, cây hương thời Chính Hòa, chuông cổ… Điều đặc biệt hơn cả là 100 pho tượng của chùa và tòa tượng cổ “Cửu Long Phật đản”.

Chợ Nôm nằm trước chùa Nôm, cùng với chùa Nôm tạo nên quần thể di tích. Đây là nơi buôn bán sầm uất thời xa xưa, một trong những ngôi chợ lớn nhất vùng, chuyên buôn bán vật liệu phục vụ cho nghề đúc đồng truyền thống của làng Nôm

Đình Nôm nằm ngay trung tâm làng. Di tích hiện có gồm Tiền tế, Phương đình, Giải vũ và Hậu cung. Mặt đình quay ra hướng đông nam, trông ra ao trung tâm. Tiền tế gồm 5 gian, 3 gian giữa mang kiến trúc Hội quán, ảnh hưởng phong cách kiến trúc Phúc Kiến Trung Quốc, 2 bên lan can là đôi rồng đá. Hai gian bên, trước mỗi gian là đôi voi phục  gợi lại hình ảnh thời Bà Trưng cưỡi voi xung trận. Gian giữa toà tiền tế có 4 cột đá xanh trạm khắc tinh xảo. Cách tiền tế một khoảng sân hẹp lát gạch bát tràng là tới phương đình, rồi tới hậu cung gồm 3 gian kiến trúc theo kiểu trồng rường đấu sen.

langnom7

Hệ thống giao thông

  • Hệ giao thông của làng vẫn giữ cấu trúc hình xương cá. Bên cạnh đó, đường trong làng hầu hết được lát vỉa gạch nghiêng, tạo nên cảnh quan văn hoá đặc trưng của làng xã, đồng thời phản ánh tập tục truyền thống: con gái trong làng đi lấy chồng phải cung tiến vào đình 20 mâm đồng hoặc xây dựng vài chục mét đường làm bằng gạch. Đặc biệt, điểm nhấn trong hệ thống giao thông của làng là cây cầu đá 200 tuổi: cầu Nôm. Cây cầu Nôm là cây cầu đá chín nhịp đầu rồng bắc qua sông Nguyệt Đức sang chợ Nôm. Cây cầu dài khoảng 20m, rộng chừng 2m, được ghép bằng những phiến đá lớn, từ các mố cầu, trụ cầu, thân cầu đều bằng đá. Cây cầu được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 13 (1848 – 1883) và đã trở thành phương tiện chính để người dân đi lại giao thương.

langnom8

Nhà cổ, nhà thờ họ

Làng hiện còn 07 ngôi nhà cổ, trong đó nổi bật nhất là nhà của cụ Phùng Văn Long làm cách đây gần 300 năm, với toàn bộ phần trụ, cột, hoành đều được làm bằng gỗ còn nguyên vẹn các đường nét chạm trổ tinh xảo. Nhà của ông Phùng Như Chương, bà Phùng Thị Trãi được xây dựng gần 100 năm trước theo kiến trúc biệt thự Pháp. Các công trình kiến trúc bằng gỗ đã chứng tỏ sự phát triển hưng thịnh một thời của làng Nôm. Ngoài ra, làng Nôm còn có 8 nhà thờ họ có niên đại gần 100 năm. Các nhà cổ, nhà thờ họ tập trung chủ yếu quanh khu vực không gian trung tâm.

n1

Nhà cổ và nhà thờ họ làng Nôm

Giá trị văn hoá phi vật thể:

Những giá trị văn hóa phi vật thể của cộng đồng dân cư như lễ hội, nghề truyền thống (nghề đúc đồng, buôn đồng…), các phong tục tập quán, hội hè đình đám được tổ chức quanh năm như 12 tháng Giêng hội làng, 10 tháng 2 âm lịch là ngày giỗ thánh Tam Giang, 10 tháng 8 âm lịch là ngày hội mừng sinh nhật thánh Tam Giang; 13 tháng giêng các dòng họ làm lễ tế xuân, 15 tháng giêng làm lễ thượng nguyên, 15 tháng Tư lễ trung nguyên, 15 tháng bảy lễ hạ nguyên và 21 tháng chạp là lễ tất niên… Ngoài ra, làng còn có nhiều phong tục tập quán thể hiện sự cố kết cộng đồng như con gái đi lấy chồng phải cúng tiến mâm đồng hoặc xây lát gạch một đoạn đường làng, nam giới đến tuổi 55 nộp lệ làng một khoản tiền và mâm lễ vật trên đình làng để khao lão, người giàu ở làng ủng hộ về mặt giáo dục và y tế cho làng, thuê bác sỹ và thuê giáo viên để dạy học cho con em trong làng…

Nguyên tắc quy hoạch xây dựng nhằm bảo tồn giá trị văn hoá:

Nhận diện các giá trị văn hoá của làng Nôm cho thấy các điểm di tích nằm riêng lẻ, mật độ di tích thấp, giá trị chủ yếu là cảnh quan văn hoá làng. Việc cải tạo các công trình hiện có, việc xây mới cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Tôn trọng cấu trúc không gian làng truyền thống với 3 phân khu rõ rệt: khu vực ngoài làng, khu vực vùng biên, khu vực trong làng
  • Cần thiết phân vùng khu vực, quản lý từng vùng về mật độ xây dựng và chiều cao. Việc không chế chiều cao nhằm bảo tồn cảnh quan lịch sử của làng, đặc biệt là cảnh quan khu vực lõi trung tâm
Phân vùng làng Nôm

Phân vùng làng Nôm

Đối với tuyến: (1) tôn trọng hệ giao thông tại khu vực làng cũ, không mở rộng, không thu hẹp mặt cắt đường (2) cần phân loại và nhận diện đặc trưng của từng loại tuyến, từ đó đưa ra các quy định về thiết kế đô thị, trong đó chú trọng quy định về khoảng lùi, hình thức hàng rào.

Phân loại tuyến

Phân loại tuyến

Quy định về thiết kế đô thị để đảm bảo đặc trưng cho từng loại tuyến

Quy định về thiết kế đô thị để đảm bảo đặc trưng cho từng loại tuyến

  • Đối với điểm:
  • Bảo tồn không gian cảnh quan lõi trung tâm lịch sử của làng, coi đây là trung tâm văn hoá, nơi tập trung các hoạt động cộng đồng.
  • Việc bảo tồn các công trình tôn giáo tín ngưỡng không chỉ dừng ở việc bảo tồn bản thân quần thể công trình, cần xem xét nó trên khía cạnh tổng thể làng cũng như mối quan hệ về không gian với các công trình xung quanh, từ đó đưa ra các quy định quản lý.
  • Khuyến khích người dân bảo tồn các kiến trúc nhà cổ. Phân loại và đưa ra hướng dẫn để các công trình xây mới, xây chen không làm mất đi giá trị của công trình cổ.

13

Phát triển du lịch văn hoá

Bên cạnh tuyến du lịch tâm linh đến đình Nôm, chùa Nôm, cần phát triển các tuyến du lịch văn hoá để du khách khám phá cảnh quan văn hoá làng. Cần phát triển các tuyến du lịch văn hoá để du khách có thể nhận thức được cấu trúc và cảnh quan làng Nôm thông qua việc thăm khu vực vùng biên (thăm quan cổng làng, đi thuyền dọc sông), thăm lõi trung tâm, thăm quan nhà cổ. Đặc biệt, các nhà cổ cần có phương án sử dụng thích nghi, kết hợp với dịch vụ du lịch để tăng thu nhập người dân. Lõi trung tâm lịch sử cần được nhận diện là không gian quan trọng nhất, là nơi giao lưu văn hoá giữa người dân địa phương và khách du lịch. Cần đưa ra các quy định khuyến khích, cho phép có điều kiện, cấm về mặt hoạt động, chức năng, để tránh tình trạng thương mại hoá không gian văn hoá lịch sử

n5

4.Kết luận

Lịch sử hình thành trên 3000 năm của vùng đồng bằng sông Hồng đã kiến tạo nên hệ thống làng dày đặc, mang trong mình giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú. Tuy nhiên, cho đến nay, Làng cổ duy nhất được công nhận là Làng cổ ở Đường Lâm. Sức ép đô thị hoá, nền kinh tế thị trường, sự hạn chế trong kinh phí đầu tư công đòi hỏi các làng cổ phải tìm cho mình một mô hình phát triển thích hợp, gìn giữ giá trị văn hoá song song với việc phát triển cuộc sống của người dân, thu hút lao động trở về làm việc cho quê hương. Do đó, cần thiết nhận diện và khẳng định giá trị của không gian cảnh quan văn hoá tại các làng cổ, coi đó là nhân tố quan trọng trong quy hoạch nông thôn mới nhằm giữ gìn bản sắc, đồng thời là tài nguyên du lịch cần được khai thác hợp lý.

Quy hoạch nông thôn mới cần gìn giữ không gian kiến trúc cảnh quan văn hoá làng về mặt diện (vùng), tuyến, điểm. Về khía cạnh hoạt động chức năng, cần có các quy định, quy chế quản lý để gìn giữ môi trường văn hoá của làng truyền thống

Phát triển các hoạt động du lịch văn hoá cần nhìn nhận vai trò của cộng đồng và người dân địa phương. Kinh nghiệm các nước cho thấy cần có sự hợp tác giữa nhiều thành phần bao gồm nhà nước, đầu tư tư nhân, cộng đồng

Tài liệu tham khảo

  1. Dương Văn Sáu (2013), Tác động của hoạt động du lịch tới việc bảo tồn các làng cổ trên địa bàn Hà nội, Hội thảo bảo tồn làng xã, Viện bảo tồn.
  2. Pierre Gourou (1936), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ.
  3. Trần Thúy Anh (chủ biên) (2011), Du lịch văn hóa – Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
  4. Trần Thuý Anh, Hoàng thị Thu Lan (2013), Phát triển du lịch văn hoá nhằm bảo tồn và phát huy giá trị làng cổ ở Hà nội, Hội thảo bảo tồn làng xã, Viện bảo tồn.
BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC