BẢO TỒN THÍCH ỨNG , PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN LÀNG XÃ TRUYỀN THỐNG (Phần 1)

 

PGS.TS. Phạm Hùng Cường

Làng xã truyền thống (vùng Đồng bằng sông Hồng) chứa đựng một hệ thống giá trị di sản văn hóa đồ sộ, cả về vật thể và phi vật thể, tiêu biểu là giá trị văn hóa xây dựng môi trường sống cộng đồng nông thôn Việt Nam. Trong vùng có khoảng 3500 làng, hình thành khoảng từ 500 năm hoặc lâu hơn, sớm nhất cũng là 200 năm ở khu vực lấn biển Thái Bình. Cho đến ngày nay, dù trải qua nhiều biến động nhưng nhìn chung làng xã nào cũng vẫn còn di sản, khác biệt về sự tồn tại đầy đủ hay chỉ còn lại một vài thành tố cũ.

Tuy nhiên các làng xã truyền thống hiện đang phải đối mặt với sự mất mát các giá trị di sản truyền thống một cách nhanh chóng trước các tác động đô thị hóa và những biến đổi về đời sống kinh tế, xã hội ngay trong bản thân nông thôn.

Công tác bảo tồn giá trị di sản làng xã hiện đang triển khai chậm, bảo tồn thiếu tính tổng thể và gặp nhiều vướng mắc.  Về bảo tồn tổng thể, cả nước hiện chỉ có 2 khu vực làng xã  được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia là các làng cổ ở Đường Lâm  (Sơn Tây, Hà Nội) và làng cổ Phước Tích ( Huế). Phần lớn các di tích khác bảo tồn ở dạng quần thể nhỏ hoặc công trình đơn lẻ, cơ bản tập trung vào đình, chùa, đền …Còn lại là do người dân tự thực hiện, kết hợp bảo tồn với tôn tạo, cải tạo hoặc xây mới trên nền các công trình cũ. Rất nhiều các công trình truyền thống khác như nhà cổ, cổng nhà, giếng, cầu đá…đã và đang bị phá bỏ và thay thể bởi nó không còn có chức năng phù hợp trong môi trường sống mới. Nếu so sánh những gì đã có tại làng Chèm (Thụy Phương), Ngọc Hà, Phú Thượng ( Hà Nội)…những năm 1990 với hiện nay (2016) thì mới thấy tiếc nuối vì những cảnh quan, kiến trúc truyền thống đã hầu như biến mất trong làn sóng phát triển của những công trình xây mới, làng xã đã trở thành các khu ở đô thị mật độ cao chất lượng sống thấp.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đẩy nhanh, phủ rộng công tác bảo tồn các giá trị di sản làng truyền thống, ngăn chặn kịp thời sự mất mát di sản, trong bối cảnh nguồn lực ngân sách hạn chế ?

Vấn đề hiện nay là cần tìm một phương pháp tiếp cận mới trong công tác bảo tồn để việc bảo tồn các giá trị làng xã thực sự có hiệu quả, kịp thời ngăn chặn sự mất mát di sản đang xảy ra từng ngày từng giờ trong các làng xã.

Trước hết vẫn là sự nhìn nhận, đánh giá giá trị di sản làng xã một cách đúng đắn.

  1. Di sản làng xã mang tính tích hợp của hệ thống các giá trị văn hóa xây dựng nên môi trường sống cộng đồng. Các giá trị văn hóa của di sản không thể chỉ nhìn nhận dưới một giá trị đơn lẻ của thành tố nào. Qua nghiên cứu các làng xã tại địa bàn vùng Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Hải Phòng…có thể rút ra những nét tương đồng trong hệ thống giá trị di sản làng xã, phân chia theo 2 nhóm, đó là:

 Nhóm 1: Hệ thống di sản văn hóa vật thể:

+ Gía trị di sản về cấu trúc: Cấu trúc không gian, cách thức phát triển và hình thành làng.

+ Gía trị về kiến trúc nhà ở truyền thống

+ Gía trị về kiến trúc các công trình cộng cộng, tôn giáo, tín ngưỡng: Gồm các công trình tôn giáo, tín ngưỡng: Đình, chùa, miếu, phủ, văn chỉ, nhà thờ họ…và các công trình phục vụ cộng đồng: Giếng, ao, cổng làng, lũy tre, đường, cầu, quán…

– Gía trị tổ chức không gian cảnh quan: Tổ chức không gian cảnh quan đình, chùa, sử dụng mặt nước, cách bố trí theo phong thủy…

– Phương thức xây dựng và sử dụng vật liệu truyền thống: Cách đào ao xây dựng, sử dụng tre, gạch đất, đá ong…

– Gía trị sinh thái và sinh thái nhân văn: Hệ sinh thái làng xã và hệ sinh thái hộ gia đình.

Nhóm 2: Giá trị di sản phi vật thể và vật thể khác

– Danh nhân: các vị vua, các anh hùng, nhân vật có công với nước, với làng.

– Phong tục, tập quán, tín ngưỡng: Lễ hội, ma chay, cưới xin, lệ làng, lễ tết…

– Lối sông cộng đồng: Quan hệ láng giềng, dòng họ, gia đình.

– Truyền thuyết, ngữ văn truyền miệng; Văn bản: gia phả, văn bia.

– Phương thức sản xuất, nghề truyền thống

– Ẩm thực

– Trang phục truyền thống; Đồ dùng gia đình truyền thống

– Nghệ thuật biểu diễn: Tuồng, chèo, múa rối, quan họ….

– Khảo cổ (tùy theo địa điểm)

Nhìn nhận một cách hệ thống thì giá trị di sản làng xã là giá trị tích hợp nhuần nhuyễn của giá trị vật thể và phi vật thể, tạo nên một môi trường cư trú đặc sắc và bền vững.

 Cần nhấn mạnh giá trị hệ thống, tính tích hợp của di sản làng xã để nhận thấy việc chúng ta mới tập trung chủ yếu vào bảo tồn đình, chùa là có phần phiến diện. Mặc dù đình, chùa là những công trình kiến trúc có giá trị, tiêu biểu, quy mô lớn nhất trong làng nhưng đó không phải là những công trình duy nhất cần cấp thiết bảo tồn trong làng xã.

  1. Di sản làng xã không phải là yếu tố tĩnh. Đó là sự tích lũy kinh nghiệm qua hàng trăm năm xây dựng của cộng đồng dân cư, nó có sự điều chỉnh, bổ sung trước những biến động của thiên nhiên, của con người và của những biến đổi kinh tế xã hội. Chính tính thích ứng này đã tạo nên sự bền vững của cấu trúc làng tồn tại hàng trăm năm đến ngày nay.

Về cấu trúc, sự hình thành của một làng không phải là một quá trình ngắn, nó có thể kéo dài tới cả trăm năm, thể hiện qua những gấp khúc của đường, ngõ mỗi khi có một đợt nhập cư mới. Sự hình thành di chuyển của đình, chùa trước những tác động của thiên nhiên…

Các làng cũng có sự khác biệt, thường chỉ giống nhau trong một vùng có sự tương đồng về tự nhiên, địa hình và đặc điểm sản xuất. Nhìn từ trung du đến miền biển có thể thấy rõ những khác biệt đó. Làng xã trung du nhà ở thường tập trung trên gò, đồi cao, ao đào xung quanh. Làng xã vùng Hà Nội, Hưng Yên có cấu trúc phân nhánh cành cây ( Mông Phụ, Sơn Tây) hoặc răng lược (Cự Đà, Hà Nội), hình thành theo ven sông hoặc tạo có các hồ ao trung tâm. Có làng tạo ao lớn làm trung tâm (làng Nôm, Hưng Yên), có làng chỉ có nhiều ao nhỏ , điều này cũng thể hiện tính thích ứng theo địa hình và cũng thể hiện tốc độ và quy mô của các đợt xây dựng. Tuy nhiên càng về phía biển, các vùng như Nam Đinh, Thái Bình đường ngõ lại thẳng thắn, mạch lạc hơn như được kế thừa rút kinh nghiệm hạn chế của đường ngõ ngách gấp khúc ở các làng khác.  Tiêu biểu như làng Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định), có tuổi tới 500 năm nhưng lại có cấu trúc rất hiện đại, làng có sông đào bao quanh tạo hình một con cá, đường xóm chạy song song, không có ngõ ngách, tất cả nhà ở đều quay hướng Đông Nam. Với vùng lấn biển Thái Bình, các làng được Nguyễn Công Trứ quy hoạch còn có cấu trúc đường thẳng và mạch lạc hơn nữa.

Các làng vừa tiếp thu giá trị kiến trúc, xây dựng chung của vùng, vừa vận dụng và điều chỉnh tùy theo điều kiện riêng. Tìm hiểu việc sử dụng vật liệu xây dựng đá ong ở Đường Lâm, nhà xây bằng gốm, sành ở Vĩnh Phúc, tường trình bằng hàu biển, cách làm cầu gỗ, cầu đá, cách xây giếng ở Nam Định…càng cho thấy rõ sự hiểu biết sâu sắc về tự nhiên và tính kế thừa, sáng tạo của ông cha ta trong việc ứng xử với tự nhiên để xây dựng môi trường sống.

tretgergh

Hạn chế của phương thức bảo tồn hiện nay

Trong thời gian vừa qua chúng ta đã tập trung bảo tồn các giá trị di sản làng xã theo phương thức của Bảo tồn di tích. Đó là việc bảo tồn các công trình đã được lựa chọn, xem xét các giá trị để xếp hạng và công nhận là di tích, các công trình này được bảo vệ theo luật Di sản. Nhìn chung nguyên tắc bảo tồn là giữ nguyên các vật thể hiện có, chỉ tôn tạo, phục dựng khi có đầy đủ các cơ sở khoa học.

Đối với các di tích đơn lẻ trong làng xã như đình, chùa, miếu việc bảo tồn không phát sinh ra những mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển vì trước và sau bảo tồn, chức năng và giá trị tinh thần của công trình không thay đổi. Nhìn chung hiện nay cộng đồng đều nhận thức được sự cần thiết phải gìn giữ đình, chùa, miếu, một phần vì giá trị kiến trúc, một phần vì tín ngưỡng. Khó khăn chỉ là vấn đề Nhà nước thiếu kinh phí để bảo tồn, tôn tạo kịp thời.

Đối với các di tích mang tính quần thể như làng cổ Đường Lâm, việc bảo tồn khó khăn hơn nhiều vì có sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển.  Việc bảo tồn phát sinh mâu thuẫn giữa việc gìn giữ không gian, quẩn thể công trình truyền thống, bảo vệ nguyên gốc và nhu cầu ở biến đổi, đòi hỏi không gian ở cũng phải thay đổi. Nhu cầu nâng tầng, cải tạo nhà để lắp điều hòa, khu vệ sinh khép kín…mâu thuẫn với việc gìn giữ công trình theo một lối sống đã tồn tại hàng trăm năm trước. Việc chuyển đổi lối sông sản xuất nông nghiệp sang dịch vụ du lịch không dễ dàng. Chính vì vậy việc bảo tồn này không thể phổ cập rộng trong vùng Bắc Bộ mà mới chỉ là lựa chọn được Đường Lâm một điểm duy nhất.

Nếu chỉ tính mỗi làng còn một vài di sản thì toàn vùng Đồng bằng sông Hồng chúng ta cũng có hàng vạn di sản nhỏ bé khác nhưng nằm trong giá trị hệ thống rất cần được bảo tồn… Hệ thống các di sản này khó có thể bảo tồn như những di tích, không chịu sự chi phối của luật Di sản. Chính vì vậy chúng được gìn giữ rất mong manh, nơi nào người dân có ý thức thì giữ, nơi nào bị sức ép đô thị hóa, môi trường ô nhiễm thì các di sản này cũng bị phá bỏ. Nhiều cổng làng đã bị phá cho ô tô đi, nhiều ao làng bị lấp, giếng làng bỏ hoang,nhà tre vách đất bị dỡ hết,  lũy tre không còn bóng dáng…Hệ sinh thái truyền thống bị phá vỡ, các phương pháp xây dựng truyền thống bị mai một không sử dụng…

s

Vấn đề là các di sản này không có chức năng trong cuộc sống đương đại. Cổng không còn cần để bảo vệ mà lại vướng lối ô tô vào, lũy Tre cũng không cần để bảo vệ mà lại tốn đất, ao làng, giếng làng do nước ô nhiễm nên cũng không còn để lấy nước sinh hoạt, nhà gạch đất không thuật tiện để lặp điều hòa, để nâng tầng, …vì vậy khó có thể vận động người dân gìn giữ.

Việc chờ đợi nguồn kinh phí để bảo tồn các di sản này như  Di tích, dùng luật Di sản để áp đặt việc bảo tồn là việc không thể thực hiện được.

(còn tiếp …)

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC