Các Gía Trị Di Sản Kiến Trúc, Quy Hoạch Làng Hành Thiện – Nam Định

Là một trong số những ngôi làng truyền thống của Nam ĐỊnh. Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, không những nổi danh làng khoa bảng với nhiều địa linh nhân kiệt, quê hương của Tổng Bí Thư Đảng Trường Chinh. Nơi đây còn là một trong những làng cổ, hiện còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc truyền thống và trên hết là hình thái ngôi làng theo địa hình “Lý Ngư”, có giá trị nổi bật cần được trân trọng và gìn giữ.  Đáng tiếc là qua thời gian, không ít công trình đã mất, biến dạng hoặc thay đổi, nhất là về hình thái không gian tổng thể làng. Những ngôi nhà cổ gắn liền với đời sống người dân đang bị xuống cấp hoặc cải tạo, một số công trình xuống cấp một cách nghiêm trọng. Nếu không có biện pháp bảo tồn chỉ sau vài chục năm nữa hình thái ngôi làng và các công trình kiến trúc gắn liền với lịch sử làng Hành Thiện e rằng sẽ không còn tồn tại. Ngoài những giá trị di sản độc đáo, Hành Thiện vẫn đang là ngôi làng rất it người biết đến, ít được quan tâm và cũng chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào nhằm nhận diện, đánh giá giá trị và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị di sản của làng.

Làng nằm ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ (S=409 ha). Phía Bắc giáp huyện Vũ Thư, Thái Bình; Phía Nam giáp làng Ngọc Tiên; Phía Tây giáp huyện Trực Ninh, Nam Định; Phía Đông giáp xã Xuân Trường.

 

Vị trí làng Hành Thiện

Vị trí làng Hành Thiện

Picture2

Bản đồ vẽ tay năm 1947

Picture3

 

Sơ đồ hiện nay

 

Khu dân cư bao gồm: phần bụng cá có 14 dong 13 xóm và xóm Nội Khu phần vây cá. Đường dong chạy giữa địa giới mỗi xóm rộng 2.97m. Ranh giới giữa các xóm là mương tiêu nước rộng 2.97m, song song cách đều nhau. Dải đất nằm giữa mương tiêu nước và đường dong là dãy các nhà ở được thiết kế phân lô cho các hộ gia đình. Riêng có dong xóm 8 là đặc biệt, đầu lối trước cách cổng xóm khoảng 50m, đường bẻ 1 góc khoảng 45 độ ra đường ven sông lối trước (tránh đường đâm vào Đình làng)

Khu vực các công trình nhà ở

Khu vực các công trình nhà ở

Trong khuôn viên mỗi hộ gia đình có đầy dủ các hạng mục: nhà Chính (hướng Đông Nam), nhà phụ, công trình vệ sinh, khu chăn nuôi, sân, vườn, ao, xung quanh nhà thường có vườn bao bọc, cổng nhà hầu hết nằm lệch một bên so với nhà chính, có hệ thống cấp thoát nước hết sức khoa học. Mỗi lô có diện tích 550m2 (19.1m x 28.8m), tương ứng đối xứng nhau theo cặp và kết nối với nhau kéo dài thành một tuyến thẳng song song cách đều với đường dong xóm.

*Miếu Tam Giáp

Kiến trúc gốc đã mất, còn giá trị tinh thần. Miếu Tam Giáp ở đầu cá, bên chợ nên thường gọi là miếu Chợ, thờ 3 vị thượng đẳng thần của 3 giáp Đông, Nam, Bắc và phụng thờ Cửu Công. Miếu Tam Giáp 5 gian mái ngói Nam, tường gạch, cột gỗ lim kê đá tảng

anhrlk;sklfdf

*Từ Đường
Theo điều tra khảo sát thì hiện tại làng có 18 cái (4 cái phục hồi sau năm 1954 và 14 cái trước 1954).
*Đền miếu đã phá dỡ
Đền miếu ở Hành Thiện có 10 ngôi vào năm 1945 và một số điện thờ tư nhân đã phá dỡ trong thời ba phá (1970 -1980). Hiện nay đã khôi phục miếu Tam Giáp.

 

*Cổng : Trước đây ở đầu và cuối mỗi dong xóm có cổng gạch, cửa gỗ lim, ban đêm được đóng lại chống trộm cướp. trước năm 1954 các xóm đều có cổng. nhưng cổng xóm chỉ rộng từ 2m đến 2.6m, trở ngại cho việc xe cộ ra vào nên hiện nay một số cổng đã bị phá bỏ, mở rộng đường xóm thành hình phễu rộng từ 3.5m đến 4.5m (giá trị tinh thần đã thay đổi). Riêng cổng mới là cổng sau xóm 11 rộng 2,3m, cổng sau xóm 7 rộng 2,4m, cũng đều trở ngại cho xe cộ vào ra nên nhiều người không muốn phục hồi nguyên mẫu cổng xưa. Nếu xây dựng lại, cổng xóm theo mẫu xưa, nhưng phải rộng trên 3,0m. yêu cầu này khó thực hiện nhất là các cổng lối trước vì vướng nhà cửa, đường ống nước sạch và rãnh tiêu nước thải. (cần xây mới để thích ứng với cuộc sống mới).

– Hiện tại chỉ còn 7 cổng xóm cũ: 6 (T,S). 9 (T). 10 (T,S). 12 (T,S).

– Cổng xóm mới xây dựng lại sau này là 13 cái: 3 (T,S). 4 (T,S). 5 (T,S). 7 (T,S). 8 (T,S), 9 (S), 11 (T,S).

– Các xóm không còn cổng: 1, 2, 13.

anhrlk;sklfdf

*Cầu Hành Thiện

Trước đây cầu bắc qua sông Con quanh khu dân cư vào năm 1945 là 8 cái gồm 2 cầu đá, 1 cầu gạch, 4 cầu khác có mặt cầu bằng các tấm gỗ lim dầy 10cm và 1 cầu khỉ bằng tre. Hiện nay đã bỏ 2 cầu cũ, còn lại được cải tạo mở rộng thành cầu bê tông và xây thêm 9 cây cầu mới bằng bê tông.

Picture9 Picture10
Picture11 Picture12

*Bến nước lối trước lối sau:

Bến nước là nơi bắt đầu của 1 dong xóm, tất cả các xóm đều có bến nước 2 đầu, 1 ở lối Trước và 1 ở lối Sau.

Picture13 Picture14 Picture15
 Picture16 Picture17

Cảnh quan làng cổ Hành Thiện nhìn từ bên ngoài: Với hướng tiếp cận chính là từ quốc lộ 21 tiếp giáp với đầu miệng cá là dòng sông bao quanh không gian miếu và khu chợ mua bán đông đúc.

Picture18

Khu dân : nhìn tổng thể khu dân cư là nhà mái ngói 1 tầng chiếm đa số, đan xen giữa kiến trúc mái ngói kiểu mới, mái ngói kiểu cũ với các cổng xóm và đường dong hút điểm nhìn, được bao bọc bởi con sông và cây xanh.

anhrlk;sklfdf

Cảnh quan ngõ xóm: Hai bên là tường nhà tường rào, cây xanh và cổng, Đặc trưng của mỗi dong xóm là cây xanh chủ yểu tập trung 1 phía, nhà không đối diện nhau. Không gian yên tĩnh.

Picture19 Picture20

Cảnh quan ven sông lối trước: Mật độ xây dựng trên trục đường này rất cao đạt 90% chủ yếu là nhà xây theo dạng ống có mặt hướng ra đường, chiều cao 1 đến 2 tầng. thường đuợc sử dụng làm nhà ở kết hợp với dịch vụ. Có dải vỉa hè để trồng cây. Cây trồng chủ yếu là cây Sấu có tán rộng và lá xanh quanh năm. Là nơi đi dạo và nghỉ ngơi của người trong làng.

Picture21 Picture22

Cảnh quan ven sông lối sau: Mật độ xây dựng thấp hơn lối trước khoảng 50% nhà dân ở tuyến đường lối sau, một số vẫn giữ được kiểu nhà ở thấp tầng, hướng Đông Nam và có sân vườn, số ít còn lại cũng bị ảnh hưởng bởi những ngôi nhà ống không có sân vườn. trục này không sát dòng sông nên không có vỉa hè.

Picture23 Picture25

Cây cổ thụ: cũng là một yếu tố tạo cảnh quan và dấu ấn lịch sử của làng. Hành Thiện có nhiều cây cổ thụ trên 100 năm điển hình như cây gạo Mom Rô: dấu tích làng còn giữ lại, là nơi năm 1987 ông Trường Chinh về thăm quê trước lúc mất, ông đi bằng đường thủy về đến đầu làng.

anhrlk;sklfdf

*Vật liệu xây dựng còn hiện hữu: Các công trình kiến trúc tại làng Hành Thiện hiện nay vẫn còn hiện hữu, sử dụng vật liệu vỏ sò ở một số bức tường rào và nhà ở xóm 7, xóm 8, xóm 9. Một số nhà xây bằng gạch vồ do người dân tự nung, hay những ngôi nhà bằng mái bối.

Ngoài đá ong người dân còn dùng gạch đất (lấy đất bùn ao trộn với trấu) làm gạch không nung xây dựng nhà bếp, công trình phụ.

anhrlk;sklfdf

 

*Giá trị cấu trúc : Hình thái cấu trúc không gian có giá trị về cấu trúc độc đáo nhất Việt Nam. Khác với các làng khác Hành thiện không bảo vệ bằng lũy tre và không có cổng làng. Xung quanh làng được đào sông để bảo vệ, tạo thành hệ thống giao thông thủy 2 chiều thông ra sông Cái.Làng có cấu trúc đường, dong xóm và nhà ở quy củ từ khi mới quy hoạch. 100% ngôi nhà quay về hướng Đông Nam, lệch 19 độ so với hướng chính Nam. Là hướng đón gió Đông Nam tốt nhất ở vùng ĐBSH.Làng có cơ sở hạ tầng hiện đại với lối quy hoạch theo kiểu đô thị mới, giá trị thích ứng tốt, phù hợp với cuộc sống mới. Với lối quy hoach giao thông các đường dong song song, thuận lợi cho việc tiếp cận phương tiện giao thông như ôtô rất tốt.Với hệ thống cấp thoát nước khoa học, đảm bảo ao, sông không bị ô nhiễm và không bao giờ bị ngập úng.

Picture26

Quy hoạch làng

Các công trình tôn giáo tín ngưỡng ở Hành Thiện được bố trí khoa học và phù hợp với quy hoạch chung của làng, đáp ứng tối đa nhu cầu tín ngưỡng của người dân trong làng và các xã bên cạnh.

*) Không gian chùa Keo

Chùa Keo Hành Thiện là quần thể kiến trúc hài hòa với sinh cảnh. Khu vực ngoài chùa có con đường rợp bóng cây. Gác chuông soi bóng hồ nhật nguyệt.

Picture27

Nội chùa Keo nằm trong khuôn viên 2000 m2 với tổng thể kiến trúc theo phong cách thời Hậu Lê: khép kín. Hành lang 2 dãy.

Chùa phật phía sau gác chuông.

Chùa Thánh phía sau chùa Phật

nhiều cổ vật quý hiếm bằng gỗ, gốm sứ và đặc biệt là những khí tự bằng đồng như chuông, khánh, tượng, đỉnh, bát hương và một trống đồng.

anhrlk;sklfdf

*) Không gian chùa Đĩnh Lan

Chùa Đĩnh Lan có không gian tương tự chùa keo, nhưng khuôn viên chỉ bằng 1/10 chùa keo

anhrlk;sklfdf

*) Nhà lưu niệm cố Tổng Bí Thư Trường Chinh:

là nhà ở truyền thống tiêu biểu, đặc biệt còn lưu giữ khung cửi dệt vải lụa. Nhà còn nguyên trạng cả nhà ở, nhà ngang (mái ngói, tường gạch, cột gỗ), sân ngõ, vườn ao, cây lưu niên và hàng rào tre trúc như xưa

Picture29

*) Đình:

Đình được xây từ cuối thế kỷ XVI xây lại năm 1904, bằng gỗ lim,tường gạch, lợp ngói, sân gạch, tường hoa phía trước.Khác với các làng khác ở vùng ĐBSH Đình làng Hành Thiện không thờ Thành Hoàng làng. Trước đây sông trước cửa Đình tạo hồ nước rộng luôn lưu thông dòng chảy tạo thế phong thủy. Hiện nay Đình không còn thế phong thủy, Bờ đất ngăn phần lớn mặt hồ nước trước cửa đình phía bên kia hồ, nhập vào khuôn viên trường phổ thông cấp III Xuân Trường

Picture30

*) Giếng Mắt Cá:

khác với các làng vùng ĐBSH giếng làng ờ Hành Thiện không phải là công trình công cộng dùng trong sinh hoạt hàng ngày, mà đây là công trình tín ngưỡng của làng

gieng-mat-ca

 

Trải qua hơn 400 năm, cấu trúc của ngôi làng vẫn còn gần như nguyên vẹn: thích ứng với địa hình điều kiện tự nhiên, mang giá trị sử dụng, kết hợp chặt chẽ với sinh hoạt sản xuất, phòng chống thiên tai, có tính chất phòng thủ, đề cao giá trị nghệ thuật thẩm mỹ văn hóa, theo cấu trúc xã hội.

Làng cổ Hành Thiện có giá trị tiêu biểu về mặt cấu trúc quy hoạch và không gian của một làng truyền thống vùng ĐBSH với hình thái cấu trúc độc đáo. Có khả năng tôn tạo và khôi phục hoàn chỉnh.Làng có nhiều công trình kiến trúc như nhà ở, đình, chùa, miếu, cổng, giếng có giá trị kiến trúc lịch sử văn hóa. Làng có giá trị tiêu biểu về việc sử dụng các vật liệu truyền thống trong xây dựng. Làng có giá trị về không gian cảnh quan đặc sắc với không gian đường làng, dong xóm, cổng, đồng ruộng, địa hình cảnh quan sông, cầu, cây xanh, mặt nước thiên nhiên đẹp và độc đáo. Có thể khôi phục hệ sinh thái tự nhiên.Làng tiêu biểu cho một mô hình cư trú dân cư theo kiểu đô thị với mối quan hệ sinh thái nhân văn phát triển bền vững. Quan hệ dân cư – đồng ruộng, ở – sinh hoạt, con người – thiên nhiên. Cấu trúc làng có tính thích ứng với sự phát triển của cuộc sống đông đúc.

Ths.KTS Thái Thanh Huyền

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC