Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan mặt nước và quy hoạch làng xã

Cơ sở tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan mặt nước làng xã

  • Khái niệm: “Đặc trưng” (characteristic) và “bản sắc” (indtity) hay “ý nghĩa của nơi chốn” (sense of the place) là những những khái niệm quan trọng đã được các tác giả Banz (1970) và Canter (1977) đề cập đến trong nhiều tài liệu viết về tổ chức không gian. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc kiến tạo và duy trì bản sắc hay đặc trưng của một khu vực cư trú, một nơi chốn (place) trong quá trình phát triển. Trong ngôn ngữ thiết kế, “nơi chốn” không chỉ gắn với ý nghĩa là một địa điểm. Theo Canter (1977) thì “nơi chốn” là một hợp thể của địa lý, kiến trúc và xã hội, là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, hoạt động của con người (activities), các thực thể (physical properties) của một địa điểm và các ý niệm (thoughts) về nơi đó. Theo Shirvani (1981), tổ chức không gian cư trú là một quá trình gồm những nỗ lực bảo vệ chất lượng môi trường khi xung quanh biến đổi thì gìn giữ bản sắc hay ý nghĩa nơi chốn trong quần thể cư trú là quan trọng nhất.
  • Khái niệm “ý nghĩa của nơi chốn” bao hàm khả năng nhận diện địa điểm và tự định vị được bản thân trong địa điểm đó trong một cảm xúc có sự xuất hiện của ký ức rõ nét. Trong mỗi một làng xã đều có một tổ hợp những cảnh quan đặc trưng gắn với ký ức của thế hệ dân cư của làng, có khi được truyền lại qua các thế hệ tiếp nối.
  • Từ những quan điểm lý luận trên thì ý nghĩa nơi chốn cần được xác định và xem xét cẩn trọng trong quá trình tổ chức không gian mặt nước làng xã ngoại thành Hà Nội là nơi giàu có về di sản và những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.
  • Thực tế đang diễn ra là các giá trị về bản sắc văn hóa, môi trường sống của làng xã đang bị quên lãng hoặc xếp xuống hàng kém ưu tiên để nhường chỗ cho tăng trưởng kinh tế. Những xu hướng phát triển hiện đại, thành tựu của khoa học công nghệ được truyền thông phổ biên toàn cầu làm cho hình thái và không gian văn hóa vật thể và phi vật thể của các cộng đồng làng xã biến đổi mạnh mẽ nhưng lại có xu hướng giống nhau thậm chí bắt trước nhau.
  • Không gian mặt nước – một đặc trưng của làng xã ngoại thành Hà Nội truyền thống và đương đại.

Không gian mặt nước trong các làng xã đóng vai trò như là những khởi nguồn của các giá trị văn minh, văn hóa làng xã trong tổ chức đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cộng đồng dân cư của làng.

Theo nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ, hầu hết các làng nghề truyền thống ở Hà Nội và vùng ven đô đều nằm cạnh hồ ao sông ngòi để khai thác các nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và đi lại. Ví dụ làng Bưởi với nghề làm giấy, làng Võng thị, Nghi tàm, Trích sài với nghề dệt và nhuộm lụa, các làng này đều nằm quanh hồ Tây. Làng Ngũ xã bên hồ Trúc bạch, làng Kim liên bên hồ Bảy mẫu thì có nghề đúc đồng. Các làng nông nghiệp khác ở ven đô thì càng cần đến các nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp. Những nguồn nước này đã thực sự gắn bó với đời sống của người dân Hà Nội từ ngàn đời nay, và hầu hết các di  tích tiền – sơ sử, lịch sử của Hà Nội đều nằm ở ven sông, ven hồ (Trần Quốc Vượng, 2003)

  • Giờ đây, trong xã hội hiện đại thì hoạt động sống của người dân thành phố Hà Nội vẫn gắn bó chặt chẽ với các hồ, nhưng không phải để sản xuất nữa mà chủ yếu là để nghỉ ngơi thư giãn. Không gian mặt nước ở các hồ Hà Nội luôn là nơi được người dân thành phố yêu mến nhất vì chúng là hiện thân của vẻ đẹp tự nhiên, vì chúng thật dễ tiếp cận và thật dễ chịu thư thái khi ở bên chúng.
  • Người dân thường dừng chân bên hồ mỗi khi rỗi rãi, để tận hưởng làn không khí mát lạnh từ mặt nước trong những ngày nóng bức. Người ta đến bên hồ khi hạnh phúc hay khi có chuyện buồn; dường như sự mênh mông và hư không  của thiên nhiên có thể chia sẻ được với con người những tâm tư tình cảm. Người ta đến bên hồ vào những sớm mai để tập thể thao, vào những lúc chiều tà hay những tối sáng trăng để tìm một thoáng yên tĩnh sau một ngày làm việc căng thẳng. Người ta đến bên hồ một mình, hoặc với bạn bè. Chẳng phải mất mát tốn kém gì để được gần kề với sự hiện diện tuyệt vời của tự nhiên trong lòng đô thị.

Bên cạnh chức năng chung nói trên, một số hồ như hồ Tây, hồ Hoàn kiếm còn là nơi tổ chức các hoạt động cộng đồng như các lễ hội văn hóa, các giải thể thao, các sân khấu ngoài trời, các điểm bắn pháo hoa.

  • Những quần thể, tổ hợp cảnh quan truyền thống gắn với làng xã như cổng làng -quán nước, cầu ao – ao làng, cây đa – bến nước – con đò, cây đa – giếng đất – mái đình,… đã trở thành những tổ hợp cảnh quan làng xã mang ý nghĩa nơi chốn rõ nét.
  • Không gian mặt nước có vai trò định hình cảnh quan kiến trúc của các công trình xung quang chúng, giúp cho các công trình kiến trúc có cơ hội phô diễn và nhờ đó và nâng giá trị thẩm mỹ của các công trình. Khi các công trình kiến trúc quần tụ xung quanh và hướng ra phía hồ nước, thì tại các điểm khác nhau xung quanh hồ ta sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng các ‘hình bóng’, các ‘silhouet’ đẹp mà nếu không có sự tồn tại của mặt nước, chúng ta không thể có được những điểm nhìn quí và cả điều kiện để phô diễn toàn cảnh các công trình kiến trúc như vậy.
  • Tất cả những phân tích trên giúp chúng ta nhận ra rằng chính sự hiện diện của những không gian mặt nước tạo nên cái gọi là “sense of the place” cho làng xã ngoại thành Hà Nội. Hình ảnh không gian mặt nước ao hồ làng xã ngoại thành luôn hiển hiện trong tâm hồn người Hà Nội, trong thơ ca, hội họa, trong cảnh quan kiến trúc và trong đời sống đô thị, từ đó tạo nên một ý nghĩa quan trọng thứ năm, đó là ý nghĩa biểu trưng. Sự tồn tại của những mặt nước trong làng xã ngoại thành thực sự là một đặc trưng của Hà Nội, một loại di sản tự nhiên của Thủ đô.

 Không gian mặt nước trong cảnh quan đặc trưng làng xã truyền thống

  • Với lịch sử hình thành hàng ngàn năm, làng xã truyền thống đã kết tinh được nhiều giá trị, trong đó có giá trị về cảnh quan, tổ chức không gian làng xã.
  • Nhìn toàn cảnh, làng xóm truyền thống được bao quanh, ẩn hiện sau lũy tre xanh với những nếp nhà một tầng mái ngói mầu nâu thẫm, phong cách kiến trúc tạo ra một sự thống nhất hài hòa về tổng thể và thân thiện với tự nhiên. Không gian đình chùa, ao làng với sắc thái đặc trưng là trầm, tĩnh, linh thiêng. Không gian này mang tính lịch sử, dấuấn thời gian rất rõ nét.
  • Mặt nước luôn là một thành tố quan trọng trong nghệ thuật kiến trúc cảnh quan, trong ngôn ngữ hình thái học cảnh quan. Với ngoại thành Hà Nội, thứ nhất, bản thân mặt nước các ao, ngòi đã là những cảnh quan thiên nhiên quan trọng. Thứ hai, chúng có vai trò định hình cảnh quan kiến trúc của các công trình xung quang chúng, giúp cho các công trình kiến trúc có cơ hội phô diễn và nhờ đó và nâng giá trị thẩm mỹ của các công trình. Khi các công trình kiến trúc quần tụ xung quanh và hướng ra phía ao làng, thì tại các điểm khác nhau xung quanh ao ta sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng các ‘hình bóng’đẹp mà nếu không có sự tồn tại của mặt nước, chúng ta không thể có được những điểm nhìn quí và cả điều kiện để phô diễn toàn cảnh các công trình kiến trúc như vậy.
  • Khi nghiên cứu về cảnh quan làng xã, không thể không kể đến những tổ hợp không gian cảnh quan đặc trưng như cây đa, giếng nước, bến nước, mái đình… Từ các tổ hợp nhà ở nông hộ cho đến các công trình văn hóa, tâm linh đều có gắn với mặt nước, bao quanh làng cũng là chuỗi các mặt nước tạo ra sự phản chiếu, in bóng công trình, cỏ cây hoa lá và mây trời.
  • Mặt nước thường xuất hiện ở phía trước, bên trái các công trình như là một biểu tượng phong thủy gắn với sự thịnh vượng, giàu có.
  • Mặt nước bao quanh làng cùng với lũy tre như là một biểu tượng về tính tự trị của cộng đồng làng quê với cổ ngữ “Phép vua thua Lệ làng”, một mặt bảo vệ làng khỏi sự xâm nhập bất lợi từ bên ngoài như giặc dã, trộm cướp…

Bến nước đầu làng là nơi rửa chân tay khi đi làm đồng về, rửa nông sản, rau củ trước khi ra chợ bán; trẻ con tắm cho trâu, vui đùa cùng nước…

Không gian mặt nước trong tổ hợp cảnh quan trung tâm làng xã

Không gian mặt nước trong tổ hợp cảnh quan trung tâm làng xã

Tổ hợp kiến trúc cảnh quan làng xã truyền thống

Cảnh quan cây xanh bờ ao

Hình thái mặt nước trong cảnh quan làng truyền thống

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC