Đình làng trong đời sống văn hóa người Việt ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ

Bước vào thế kỉ XV, nhà Lê lấy Nho giáo làm quốc giáo để xây dựng chế độ quân chủ, đẩy Phật giáo xuống địa vị thứ yếu trong đời sống xã hội. Gắn với Nho giáo, đình làng được xây dựng trên khắp mọi miền quê ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Đình làng thường được xây dựng trên một thế đất cao đẹp, trước mặt có dòng nước chảy hoặc hồ nước, xung quanh cây cối xanh tươi, vút lên là cây đa ngả nghiêng cùng với đất trời, biểu thị cho sức sống trường tồn của làng quê đất Việt. Một số đình làng thường được làm quay về hướng nam hướng được coi là đại cát, vượng khí, dân làng mới được bình yên, tránh được mọi rủi ro, hoạn nạn.

Ở từng làng quê, đình, làng là ngôi nhà to, có kiến trúc đẹp đẽ và hoành tráng nhất, vượt lên giữa cảnh quan xóm, làng trồng lúa nước và một vành đai tre xanh ngút ngàn. Xuân thu nhị kì trong năm, đình làng hồi sống lại cái không khí lễ hội, để ai nấy tạm quyên đi những mâu thuẫn trong cuộc sống thế tục, cùng nhau sống với không khí phấn khích, vừa náo nhiệt, vừa lâng lâng gợi cảm, như một điểm tập kết tinh thần làng mạc muôn thủa, xây đắp nên tâm hồn con người một tình yêu quê hương, đất nước. con người thiết tha. Đình làng vừa như điểm tập kết, vừa như điểm toả chiếu tâm thức và tình cảm con người, là trung tâm tín ngưỡng thờ Thành hoàng, trung tâm của bộ máy chính quyền quân chủ làng, xã, trung tâm cộng cảm, trung tâm giao duyên của tình yêu đôi lứa.

Đình làng – trung tâm tín ngưỡng thờ Thành hoàng

de_eyhw

“Cuộc sống tinh thần cộng đồng làng xã Việt Nam nói chung, đặc biệt ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ là sự kết tinh trên một bình diện ý thức hệ tôn giáo quanh một hình thái thờ phụng tập thể – thờ Thành hoàng”(1). Thành hoàng là một nhân vật, vừa mang chất liệu huyền thoại, vừa mang chất liệu lịch sử, đan xen hoà quyện cả hai yếu tố “hư” và “thực” để chung đúc nên diện mạo thống nhất của vị thần “linh thiêng” bảo vệ làng, xã. Mỗi năm thường có hai kì lễ, hội vào mùa xuân và mùa thu, cái nhịp ngắt quãng thời gian giữa hai đầu mùa vụ nông nghiệp cổ truyền của cư dân trồng lúa nước. Nghi thức tế lễ gồm nhiều khâu: lễ thức do hội “tư văn” đảm nhiệm soạn thảo “văn tế”. Các thành viên trong hội “tư văn” cử một người đại diện ra hành lễ chính, người đó được thay mặt thần dân làng, xã, xướng to lên trong quá trình tế lễ, tại đình. Nêu lên chức tước của vị thần Thành hoàng được triều đình công nhận “phong sắc”. Lễ vật cúng thần thường là “ông ỉ”, tức là con lợn to và béo nhất, do sức lao động của từng giáp làm ra, hội tụ lòng thành kính dâng lễ vật tinh khiết, thơm thảo lên thần, trong niềm suy tưởng “siêu nhiên”, thoát tục của tất cả thần dân với thần Thành hoàng. Hành lễ, kết hợp với lễ vật, điều đó chứng tỏ sự trung thành không những chỉ trong đời thường mà cả trong đời sống tinh thần của từng cá thể, hợp thành ý thức cộng đồng làng xã, cầu xin Thành hoàng một năm yên lành, mùa màng bội thu, giàu có sung mãn. Với tinh thần ấy, người ta bắt gặp tất cả những ai sống dưới sự bảo vệ của “thần” thì trong cuộc sống quan hệ giữa người với người mới thực sự bình đẳng. Ngược lại, nếu làng xã nào thiếu sự trung thành, chu tất tế lễ báo đáp “thần” thì sẽ bị thần “nổi giận” trừng phạt, cả làng chịu chung số phận.

Đình làng – nơi ngự trị của thần Thành hoàng.

Đình làng trở thành trung tâm tế tự tập thể, nơi hội tụ toả chiếu sức mạnh linh thiêng, huyền bí, cứ ngấm vào tâm hồn con người qua các thế hệ. Một hình ảnh quen thuộc về làng quê, xóm cũ cổ xưa muôn thủa.

Đình làng – trung tâm của bộ máy chính quyền cấp cơ sở

Cơ cấu tổ chức làng, xã gồm có: Hội đồng Kì mục, hiện diện là ông Tiên chỉ và Thứ chỉ và Hội đồng Lí dịch bao gồm: lí trưởng, phó lí, hương trưởng, xã tuần. Hội đồng Kì mục và hội đồng Lí dịch hợp thành bộ máy chính quyền cấp cơ sở của nhà nước quân chủ. Để quản lí chặt chẽ làng xã, thông qua sự ghi chép cẩn thận của sổ sách ”sổ đinh”, ”sổ điền”, kết hợp với ”hương ước” qui thành văn, gọi là ”lệ làng”. Trên cơ sở đó, Hội đồng Lí dịch điều động nhân lực, vật lực vào việc công ích thường xuyên mà nhà nước nào cũng nhất thiết phải tiến hành trong khuôn khổ quản lí xã hội của mình. Những công việc như đắp đê, làm thuỷ lợi, sửa đường, bắc cầu… (gọi là đi phu), tuyển dụng và bổ sung các tráng đinh tham gia quân đội chống ngoại xâm bảo vệ đất nước. Tất cả những công việc ấy là nghĩa vụ đóng góp của làng, xã đối với nhà nước quân chủ.

15216-0d1e9

Đình, làng là nơi chứng kiến Hội đồng Lí dịch giải quyết những mâu thuẫn giữa các phe phái trong làng. Không những đối phó với Hội đồng Kì mục và quan viên làng xã, mà còn phải giơ đầu chịu báng với dân. ”Dân” – một biển cả nông dân, đầy rẫy mâu thuẫn với hàng trăm hộ kinh tế cá thể, mà mỗi hộ kinh tế ấy lại càng ra sức bảo vệ quyền lợi của chính mình. Đặc biệt, đến mùa ”sưu thuế” làng quê lại căng phồng lên sự bức bí, ngột ngạt bằng các đợt trấn áp, trói người, đánh người dồn dập:” Nửa đêm trống thúc thuế dồn, sân đình máu chảy đường thôn lính đầy. Hội đồng lí dịch chiếu theo những qui chế trong ”hương ước” để khen thưởng cho những người có công bắt trộm, đền bù cho những người đã hi sinh vì quyền lợi chung của làng xã. Đồng thời suy tôn những người đã bỏ công bỏ của ra làm những việc công ích như đình chùa, cầu cống…. Hội đồng Lí dịch còn thi hành hình phạt những tên trộm cắp vặt, ẩu đả thông thường, tội chửa hoang, tội bất kính với bề trên, tội chứa người lạ trong nhà, tội cờ bạc, trai gái…. Tất cả những điều nhằm bảo vệ an ninh trật tự làng xã, duy trì đạo lí, gia phong tạo nên nếp văn hoá làng xã trường tồn.

Đình làng trở thành biểu tượng về mọi mặt của cuộc sống làng xã, toả chiếu quyền uy của nền quân chủ, tác động vào tâm hồn và tình cảm người nông dân cả những mặt tốt, mặt xấu tạo nên hình ảnh đặc sắc về nền quân chủ làng mạc muôn thủa.

   Đình làng – một trung tâm cộng cảm.

Hai mùa Xuân – Thu, đình làng lại bước vào thời kì sinh hoạt sôi nổi của cả cộng đồng người tham gia. Tuỳ theo phong tục từng xã, hội hè kéo dài trong một số ngày, mọi hội hè đình đám đều gắn liền với những qui chế của tôn giáo, mê tín, dị đoan, tạo nên chất men huyền ảo linh thiêng thêm lễ hội.

Đình làng nơi hội tụ tế lễ thần Thành hoàng, nơi diễn ra lễ nghi rước kiệu. Kiệu được sơn son thếp vàng, chính giữa kiệu là ngai vàng – nơi ngự trị của Thành hoàng được dân làng rước từ đình qua các đường làng rồi trở về đình giữa cờ, quạt, lọng che, tiếng nhạc và tiếng trống inh ỏi. Dân làng diễn tả lại một cách tượng trưng sự tích về thần và công tích của thần. Lễ rước kiệu của dân làng thực sự đã gây nên hiệu ứng phấn khích giữa họ với nhau tạo thành niềm cộng cảm không thể thiếu trong tế lễ cộng đồng.

Đình làng nơi diễn ra những trò chơi được tổ chức trong dịp hội làng, trong đó các giáp cử ra những người tài ba nhất tham gia đua tài với những môn đấu vật, cướp cờ, bịt mắt bắt người…. Thông qua các trò chơi, trai làng xác lập mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, củng cố những sợi dây tình cảm giữa những con người trong làng, xã.

Đình làng nơi diễn ra hội thi cỗ. Từng giáp sắm lễ mang ra trình làng. Có một ban do chức sắc cử ra, kiểm tra cỗ từng giáp, xem có đúng với tiêu chuẩn lệ làng qui định từ trước hay không. Cỗ nào lớn nhất, giáp ấy được thưởng. Đây là vấn đề thể diện của từng tập thể trước hàng nghìn con mắt soi mói của cộng đồng, vì vậy các giáp đều ganh đua nhau sắm cỗ lớn. Thi cỗ vật xong, các giáp sắp đặt cỗ của mình trên sân đình theo thứ tự để ăn uống – đó là bữa ăn cộng cảm làng xã trong không khí bình đẳng.

Đình làng nơi hội tụ của các nguyên lão. Hàng ”lão” gồm những người đã lên lão trong khuôn khổ từng giáp: 49 – 50 đến 60 tuổi gọi là sơ lão, 60 đến 70 tuổi gọi là trung lão, 70 đến 80 tuổi là thượng lão, 80 trở lênh gọi là đại lão. Các nguyên lão là một niềm vinh dự đích thực là niềm vinh dự tối chung của một đời người, được cả giáp, cả làng trọng vọng, được mệnh danh ”cây cao bóng cả”, hồng đức của dân làng. Các nguyên lão ra giáp, ra đình đều được ngồi chiếu trên, tạo nên một lối sống đẹp về văn hoá “trọng lão”.

Đình làng – trung tâm gặp gỡ tình yêu đôi lứa.

Đình làng là nơi hội tụ của trai thanh gái lịch, là nơi ”phường phố” của làng quê, nơi gặp gỡ, hò hẹn tình yêu đôi lứa, đã làm xao xuyến rung động bao nhiêu con tim của trai làng, gái quê. Đình làng to và đẹp, biểu trưng cho một đấng nam nhi, một đấng quân tử, một vẻ đẹp uy nghi đã làm trái tim các cô thôn nữ khát khao, thầm ước. Đình làng đã đi vào tâm hồn con người như một dòng suối nguồn trong trẻo, chảy giữa nắng ban mai, đã trở thành đề tài vĩnh cửu của thi ca đẹp như huyền thoại: ”Hôm qua tát nước đầu đình, bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”.”Trúc xinh trúc mọc đầu đình, em xinh em đứng một mình cũng xinh”, ”Anh như trái táo rụng sân đình, em như gái dở đi rình của chua”, ”Em như con Hạc đầu đình, muốn bay không cất nổi mình mà bay”, ”Qua đình ngả nón trông đình, đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Gần 600 năm tồn tại trong lịch sử, đình làng trở thành hệ qui chiếu văn hoá đặc sắc in đậm dấu ấn vào tâm hồn và tình cảm của người Việt ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Ba yếu tố ”cây đa, bến nước, mái đình” trở thành cấu trúc văn hoá, xây đắp lên hình ảnh thân thuộc làng quê đất Việt. Mỗi làng quê có một ngôi đình là một bảo tàng nhỏ, trong đó chứa đựng những tinh hoa văn hoá nghệ thuật. Mỗi người Việt, ai chẳng có hình ảnh một ngôi đình ở trong lòng. Đình làng quê hương, gốc tích, mạch sống của mỗi con người. Đình làng rêu phong cổ kính và ”mái đình cong cong như bàn tay em gái vẫy giữa đêm chèo” nhắn nhủ ta giữ gìn tôn tạo tài sản văn hoá vô giá của dân tộc, từ đó định hình xây dựng một làng quê trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa truyền thống vừa hiện đại.

http://bienphongvietnam.vn/

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC