Độc lạ giếng cổ làng Bá Hạ (Kỳ 1)

Làng Bá Hạ (xã Bá Hiến, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) là một trong những ngôi làng Việt cổ của đồng bằng Bắc Bộ. Thời phong kiến, dân cư làng Bá Hạ được phân bố tại 7 thôn tiếp giáp nhau, gọi là làng Kẻ Bá. Cho tới thời điểm hiện giờ, chỉ còn 4 thôn chính là Bá Hương, Thích Chung, Thiện Chi và Quang Vinh. Tại đây còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử và trong số đó là 12 chiếc giếng cổ lớn nhỏ còn sót lại, niên đại lên đến 600 năm tuổi. Mỗi giếng đều có tên riêng như: giếng Chun (ở gia đình nhà ông Đỗ Văn Chủng thôn Quang Vinh); giếng Chùa (nhà bà Dương Thị Liên thôn Quang Vinh); giếng Trước (nhà ông Dương Văn Lại thôn Thiện Chi); giếng Bò (nằm ở giữa đường liên thôn thôn Thích Chung)…

KỲ 1: Cấu trúc độc đáo và dấu tích lịch sử của những chiếc giếng vuông

Cấu trúc đặc biệt của giếng cổ

Về cơ bản, các giếng có cấu tạo khá đồng nhất. Tang giếng (thành trên) được tạo thành từ 4 phiến đá sa thạch vuông vức, dài khoảng 1,3-1,54m, rộng khoảng 0,7-0,96m, màu xám xanh, xếp dựng đứng rồi ghép khít lại với nhau bằng cách cắt vát và tạo lỗ mộng liên kết.

Trên miệng mỗi chiếc giếng đều thấy những đường lượn sóng sâu. Có người cho rằng đây là dấu vết kéo dây lấy nước hằn tạo nên; cũng có người cho rằng đó là dấu tích của việc mài dao kiếm từ hàng trăm năm trước.

Phía dưới thành giếng được tạo bởi những viên cuội sông suối (dạng thỏi) xếp quay ngang cắm vào nhìn lô xô rất lạ mắt. Đáy giếng khá sâu (khoảng trên dưới 5m) được xử lý lọc nước bằng cách tạo các cũi gỗ xếp đều hoặc các phiến đá dẹt xếp nằm. Đây là cách xử lý thường thấy trong kỹ thuật xây dựng giếng của người Chăm Pa.

Thêm một điều đặc biệt nữa, tuy không nằm cùng một vị trí, nhưng giếng nào nước cũng trong vắt. Vào mùa khô, khi những giếng đào sau này đều cạn nước trơ đáy, thì giếng cổ vẫn đầy ăm ắp. Chiếu theo ngọc phả, thì từ hồi lập làng đến nay, chúng chưa bao giờ cạn, kể cả những năm trời làm hạn hán kinh hoàng nhất.

Dấu tích lịch sử hàng trăm năm

Đa số những chiếc giếng cổ làng Bá Hạ đều được ghi rõ niên đại bằng Hán tự ngay trên thành, mặt trong của 1 trong 4 phiến đá.

Ví dụ có thể kể đến như chiếc giếng cạnh chùa Giao Sam thôn Thích Chung có dòng chữ khắc “Hồng Đức Nhị Thập Nhất Niên, Canh Tuất Thập Nguyệt, Thập Ngũ Nhật”, dịch ra là ngày 15 tháng 10 năm Canh tuất tức năm Hồng Đức thứ 21. Qua đó, chúng ta có thể thấy được rằng, có thể giếng cổ nơi đây đều được xây dựng vào thời nhà Lê, trong thời khoảng gian trị vì của vua Lê Thánh Tông.

Theo sử sách ghi lại, suốt 38 năm trị vì của mình, vị vua anh minh ấy đã cùng triều đình đưa ra nhiều chính sách đúng đắn giúp cho Đại Việt ta thời bấy giờ phát triển rực rỡ về mọi mặt, từ  kinh tế cho tới văn hóa xã hội và giáo dục. Đặc biệt hơn, vua Lê Thánh Tông còn rất coi trọng hoạt động quân sự nhằm bảo vệ giang sơn. Trong khoảng thời gian này, ông đã nhiều lần cho tổ chức các hoạt động quân sự tại biên giới phía Nam, không chỉ bảo vệ lãnh thổ mà còn mở rộng bờ cõi. Sau mỗi thắng lợi, nhà vua lại đưa theo nhiều cư dân tại các khu vực biên giới về kinh đô Đại Việt. Trở về cùng nhà vua lúc bấy giờ còn có cả những người Chăm Pa. Từ đây chúng ta có thể đặt ra câu hỏi phải chăng những chiếc giếng cổ tại làng Bá Hạ đã được học tập xây dựng theo văn hóa của người Chăm Pa; hay lẽ nào chính những người Chăm Pa đã xây dựng nên chúng?

(Còn nữa…)

Thạch Phương Dung (Sưu tầm và tổng hợp)

Xem tiếp kỳ sau: Những chuyện kỳ lạ chưa thể giải thích

Độc lạ giếng cổ làng Bá Hạ (Kỳ 2)

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC