Gía trị di sản kiến trúc cảnh quan trong các làng xã truyền thống

Sự biến đổi của các làng xã truyền thống hịên nay trong quá trình đô thị hoá đang có xu hướng làm mất đi các giá trị văn hoá lịch sử quý giá. Ngoài các giá trị vật thể như Đình, chùa, miếu, nhà cổ… kiến trúc cảnh quan cũng là một trong những di sản văn hoá có giá trị trong hệ thống giá trị di sản vật thể của các làng xã truyền thống.

Qua một số nghiên cứu về các làng xã vùng ven Hà Nội cho thấy những giá trị di sản kiến trúc cảnh quan hết sức phong phú. Mặc dù đã có nhiều biến đổi, những không gian kiến trúc cảnh quan của khu vực đình, chùa, ao làng, không gian cổng làng và các khu vực cảnh quan tự nhiên ngoài làng khác vẫn còn những giá trị về thẩm mỹ cảnh quan, giá trị lịch sử, văn hoá, giá trị sử dụng và môi trường cho đến hôm nay.

Khác với giá trị của di sản công trình kiến trúc, di sản kiến trúc cảnh quan là một tổng hoà các yếu tố cùng tồn tại trong không gian, mỗi yếu tố có một tính chất, một giá trị , sự phối hợp của chúng trong không gian lại tạo nên giá trị riêng. Chính vì vậy việc đánh giá giá trị của chúng là phức tạp và phải được xem xét trên các góc cạnh khác nhau.

Gía trị về thẩm mỹ không gian của di sản kiến trúc cảnh quan:

Kiến trúc cảnh quan làng xã nổi bật với các giá trị về sự tổ hợp không gian cảnh quan có tính quy luật, có quan điểm trong việc tạo cảnh quan của phương Đông, khai thác và vận dụng Phong thuỷ trong nghệ thuật tạo cảnh. Các tổ hợp không gian tận dụng tốt yếu tố địa hình, cảnh quan, môi trường tự nhiên. Trong đó các không gian của khu vực Đình, chùa là những khu vực có giá trị tiêu biểu.

– Các tổ hợp bố cục có quy luật :

Trong các quần thể Đình – Chùa khảo sát đều cho thấy tính quy luật trong tổ hợp. Sự tổ hợp có tính quy luật nhất là tổ hợp theo các trục, các trục chính là đường đi qua tâm của toà nhà chính, từ đó là xương sống tổ hợp các không gian khác.

Làng Triều Khúc, quân thể đình chùa được tổ hợp theo 2 trục. Trục đi qua chính giữa chùa Vân Hương, ao làng, giếng làng. Trục thứ 2 đi qua Đình Sắc, đình Sàn, ao làng. Hai trục vuông góc với nhau và giao nhau tại điểm 1/3 vị trí trung tâm ao làng.

Làng Huyền Kỳ, trục không gian đi qua trung tâm của Đình, qua 2 ao làng, thẳng với non bộ trên ao thứ 2. Phía trái là giếng làng, bên phải là nhà thuỷ toạ. Cây trồng đối xứng 2 bên Đình.

Làng Thiết Úng, quần thể Đình, chùa Nghè có 2 trục tổ hợp, một đi qua đình, một đi qua chùa vuông góc với nhau, điểm giao là trung tâm của ao làng phía trước.

dsktcq_1

Hướng của trục không câu nệ theo hướng nào mà phụ thuộc vào địa hình, thế đất cụ thể, trường hợp này lại tuân theo quan điểm về lựa chọn hướng theo Phong thuỷ.

dsktcq_2

-Tổ hợp không gian có tỷ lệ gần gũi với con người.

Đình, chùa làng nằm trong khu dân cư, tuy nó là công trình lớn nhất làng nhưng nó luôn tạo ra một không gian có tỷ lệ gần gũi với con người. Chiều rộng của không gian đình Mông Phụ mỗi chiều là 20,2 và 23,2 m. Đạt tỷ lệ không gian là 1/4. Không gian đình Lệ Mật sân rộng 30 và 34m, tỷ lệ không gian khoảng 1/4 đến 1/6 với chiều cao công trình khoảng 5 m và cây xanh khoảng 12-15m.

Những tỷ lệ không gian này cho cảm nhận gần gũi, có độ trang nghiêm nhất định và các khoảng trống cũng đủ cho các sinh hoạt của cộng đồng.

Các không gian bên ngoài như ao làng cũng được giới hạn trong phạm vi nhìn thấy, thường chiều rộng ao không quá 100m, trung bình khoảng 30-50m.

dsktcq_3

Không gian có chiều sâu, nhiều lớp cảnh, theo quan điểm kiến trúc cảnh quan phương Đông.

Quần thể kiến trúc cảnh quan khu vực đình – chùa cũng thể hịên rõ quan điểm này, đó là tổ hợp không gian nhiều lớp cảnh, công trình hịên ra từng lớp theo tuyến hoạt động, các lớp không gian được phân chia bởi hệ thống cây xanh, tiền án, tam quan, lớp nhà chính, nhà phụ…

Phía trước công trình là hồ ao coi như lớp không gian thứ nhất, mở hướng nhìn vào đình, chùa. Tiền án ngăn không cho sự quan sát trực tiếp vào cửa chùa, đình, cùng với cổng tạo nên lớp không gian thứ hai.

Cây xanh cũng có vai trò lớn trong việc tạo lớp không gian, được sử dụng có ý đồ trong việc tạo cảnh. Cây Đa to thường đặt phía ngoài cổng đình đóng không gian từ bên ngoài, vào trong sân chỉ có cây Đại cành thưa, ít lá, tạo các lớp không gian phụ.

Các thức tổ hợp nhiều lớp cảnh tạo cho các không gian sự độc lập nhất định, cảm giác về sự trang nghiêm dễ được thiết lập do hạn chế được sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh. Đây là sự hiểu biết và áp dụng tinh tế về vấn đề sự chuyển tiếp không gian liên quan đến chuyển tiếp tâm lý. Sự chuyển đổi tâm lý dần dần qua từng lớp không gian phù hợp với tâm lý con người, đến với gian thờ chính của đình, chùa, miếu là tâm của mọi người đã có được độ tĩnh nhất định, cảm nhận được sự linh thiêng của không gian thờ Phật hay thần, thánh.

Không gian nhiều lớp cảnh còn tạo nên hiệu quả cảm nhận không gian rộng và sâu hơn so với thực tế. Đây cũng là thủ pháp tạo cảnh rất phổ biến ở nghệ thuật vườn phương Đông mà Việt Nam, Trung Quốc hay áp dụng.

Các không gian khác như cổng làng, ngõ xóm không tuân theo yếu tố trục hay hướng mà chủ yếu theo thế của địa hình, của lối tiếp cận.

 Tạo cảnh quan theo nguyên tắc của thuật Phong Thuỷ :

Phong thuỷ từ một phần của triết học phương Đông giải thích sự vận động của “khí” trong vũ trụ dưới sự tác động của các yếu tố địa hình, mặt nước. Công trình kiến trúc nằm trong không gian chịu tác động của khí theo các hướng. Mỗi hướng Đông Tây Nam Bắc đều ứng với các tính chất của ngũ hành, chịu tác động của khí vận hành theo các hướng đó.

Việc bố trí các công trình như nhà ở, đình chùa hay mồ mả theo đúng Phong thuỷ sẽ nhận được các năng lượng của tự nhiên và tạo nên những sức mạnh tinh thần, sự may mắn, sức phát triển to lớn. Nguyên tắc này đã được thể hiện trong các không gian qua một số khía cạnh :

– Sự lựa chọn vị trí và hướng của Đình, Chùa

Công trình công cộng như đình, chùa được lựa chọn vị trí không đơn thuần theo hướng Nam hoặc Đông như nhà ở mà còn phụ thuộc vào thế đất thể hịên rõ theo nguyên lý Phong Thuỷ. Phía trước của công trình là Minh Đường phải là không gian thoáng, sáng sủa. Một số ví dụ :

+ Làng Đông Ngạc: Đình hướng ra phía Đông Bắc, trước mặt là đường làng và đầm rộng thoáng.

+ Đình làng Huyền Kỳ: Hướng ra phía Tây Nam, trước mặt là 2 ao làng rộng, đường chính vào làng.

+Làng Ỷ La: Đình làng hướng về phía Tây, chùa làng hướng về phía Nam, 2 công trình tổ hợp vuông góc với nhau. Ao làng nằm ở giữa góc 2 công trình.

+Làng Khúc Thuỷ: Đền Ông và miếu hướng ra phía Nam, nơi có khoảng trống rộng và mặt nước của các con kênh dẫn từ sông Nhuệ.

+Đình làng Khúc Thuỷ hướng ra phía Tây Nam, trước mặt là khoảng trống của sông Nhuệ, đường làng.

+Đình làng Sủi, đền thờ bà Nguyên phi Ỷ Lan  hướng về phía Nam, phía trước là sân rộng. Tuy nhiên chùa lại có hướng Tây, hướng về sân chung, vuông góc với đình.

+ Làng Lệ Mật, đình hướng phía Nam, trước mặt là khoảng trống của sân đình, đường làng.

Như vậy hướng nào không phải là quan trọng mà thế đất và thế cảnh quan phía trước công trình mới là lý do để lựa chọn hướng của công trình chủ đạo tỏng không gian.

Ngoài các yếu tố thoáng đãng của Minh đường, hướng của công trình còn phụ thuộc và các yếu tố tạo khí xa hơn nữa như các dãy núi phía xa tạo bình phong, hoặc do thế đất phía sau lưng.

+ Sử dụng yếu tố mặt nước theo phong thuỷ:

Hầu hết các đình chùa đều có yếu tố mặt nước phía trước, tạo nên thế đất “ đội Sơn , đạp Thuỷ” là thế đất đẹp, thịnh vượng. Trong nguyên lý của Phong Thuỷ, mặt nước phải chảy qua trước công trình (nên từ trái qua phải) và có phần tụ nước phía trước (mặt nước mở rộng) là thế đẹp, tạo ra sinh khí.

Nguyên lý này có thể thấy ở quần thể đình Khúc Thuỷ với sông Nhuệ chảy phía trước, đình được đặt ở vị trí chính khúc cong của dòng sông, nơi lòng sông cũng mở rộng.

Đền Ông ở Khúc Thuỷ cách đình khoảng 300m còn có sự sáng tạo tinh tế. Đoạn kênh tự nhiên ôm quanh Đền, cùng với sông Nhuệ làm cho ngôi đền như đặt trên một bán đảo. Phần kênh trước mặt đền mở rộng , hình thái bầu vừa tạo sự tĩnh cho công trình vừa thể hịên đúng nguyên lý của thuật  Phong Thuỷ. Nguyên lý này cũng có thể thấy được áp dụng tại đình Chèm, đình hướng ra sông Hồng.

Ngoài ao phía trước đối dịên với đình, trong không gian còn có thể có 2 ao hai bên (hoặc giếng) cũng là thủ pháp thường gặp ở nhiều làng. Cụ thể như làng Vạn Phúc, làng  Huyền Kỳ. Mặt nước trước công trình được sử dụng như một yếu tố không gian mở. Mặt nước như một tấm gương, soi bóng các công trình làm cho công trình được tôn lên vẻ đẹp.

Khu vực không có mặt nước thì đường đi được coi như mặt nước để xác định hướng dẫn khí. Chính vì vậy qua quan sát vị trí tiếp cận Đình, chùa hầu hết đều thấy lối vào đi qua Đình, chùa là từ trái qua phải, tương ứng với dòng chảy từ trái qua phải. Tới trước cổng phần đường được mở rộng như một yếu tố tụ thuỷ.

Còn có nhiều các ví dụ khác có thể minh chứng cho việc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong các làng xã là những giá trị hết sức quý giá, hình thành qua sự đúc rút kinh nghiệm hàng ngdsktcq_4àn năm của cộng đồng dân cư.

Tính biểu tượng của Kiến trúc cảnh quan truyền thống

Trải qua lịch sử hình thành lâu dài, cảnh quan làng xã truyền thống đã hình thành những tổ hợp quen thuộc, có sự cô đọng trong phối kết các nhân tố, trở thành hình ảnh biểu trưng của làng xã. Chính vì vậy dù mỗi làng có những sự khác biệt nhưng những hình ảnh biểu trưng đã trở thành đại diện mang ý nghĩa ký hiệu học cho sự nhận biết, sự hồi tưỏng hay ký ức về làng quê nói chung.

Có thể kể đến các tổ hợp tạo hình ảnh biểu trưng sau:

1.Tổ hợp: dsktcq_5Mái Đình – Cây Đa- Ao làng

Đây là tổ hợp mang tính biểu trưng mạnh nhất của làng quê truyền thống. Với mái đình thấp, uốn cong, có sân đình với hai bên là cây Đa phía trước là ao làng đã trở thành một tổ hợp có tính công thức đạt hiệu quả thẩm mỹ cao. Hình ảnh này được lặp lại ở khá nhiều làng, chính vì vậy nó càng có tính khái quát và tính đại diện.

     2.Tổ hợp: Cây đa- Cổng làng- Ao làng

Mặc dù tổ hợp này hiện còn không được nhiều ở các làng nhưng hình ảndsktcq_6h câ
y Đa có tán rộng sum suê, bên cạnh là chiếc cổng bé nhỏ đã in đậm vào tâm trí người dân, có sức biểu cảm lớn. Đặc biệt là sự tồn tại cho đến ngày nay của cổng làng Mông Phụ -Đường Lâm với vẻ đẹp không gian hoàn chỉnh đã khẳng định tính biểu trưng của không gian cổng làng. Thậm chí hình ảnh cổng làng Mông Phụ với cây Đa- ao nước còn thường xuyên được đưa lên như hình ảnh biểu trưng của làng Việt.

3.Tổ hợp: Luỹ tre- dsktcq_7Cổng làng- Đường vào làng

Xuất phát điểm của chúng từ yếu tố công năng bảo vệ làng. Tuy nhiên đây là không gian đầu tiên kết nối bên ngoài và bên trong làng nên cũng để lại một ấn tượng hình ảnh rõ nét. Hình ảnh cô đọng là con đường dẫn vào làng, chiếc cổng nhỏ và hai bên là bóng lũy tre dày đặc. Hình ảnh này phản ánh rõ tính chất cộng đồng làng xã với tính tự trị cao trong một không gian khép kín.

       4.Tổ hợp: Đường làng- Bờ ao- Hàng rào Duối-  Cây Cau .dsktcq_8

Hình ảnh này biểu trưng cho hình ảnh không gian ở giản dị, đầm ấm thôn quê. Đó là sự phối kết hình ảnh của mái ngói, mái rạ nhấp nhô sau rặng Duối bờ rào, in trên nền trời là bóng Cau mảnh mai.

       5.Tổ hợp: Cây rơm – bụi Chuối- ao bèo

Hình ảnh này biểu trưng cdsktcq_9ho hình ảnh bên trong một hộ gia đình nông thôn. Tổ hợp mặt nước nhỏ (ao nhà) lấm tấm bèo, cây rơm màu vàng sẫm bên cạnh bụi chuối là một hình ảnh khó có thể ở đâu khác ngoài vùng quê Bắc bộ. Không gian nhỏ, cảnh quan giản dị nhưng lại là hình ảnh thấy nhiều trong làng xã.

       6. Tổ hợp: Qúan- Cây xanh- Cánh đồng lúa:

Hình ảnh một ngôi quán nhỏ mái ngói xiêu xiêu, trống trải trên cánh đồng lúa bên cdsktcq_10ạnh một cây cao là một hình ảnh thường thấy ở các làng xã. Nó điểm xuyết cho cánh đồng lúa mênh mông với cảnh quan thay đổi theo các vụ mùa. Màu mạ xanh non, màu lúa thì con gái xanh ngắt, ngày mùa với maù vàng rực.

Ngoài ra còn có những tổ hợp khác, không xuất hịên phổ biến nhưng cũng là những dấu ấn rõ nét về làng quê như hình ảnh con sông, bến đò, hình ảnh ao Sen , cây Gạo đỏ trên cánh đồng …

Gía trị lịch sử, văn hoá, tinh thần của cảnh quan

Các làng xã đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, cùng với lịch sử đất nước có rất nhiều sự kiện qua các giai đoạn Phong kiến, thời kỳ chống Pháp, Mỹ…Các không gian kiến trúc cảnh quan truyền thống cũng thường tham gia chứng kiến các sự kiện lịch sử của làng xã, mỗi loại hình đều có những giá trị lịch sử nhất định. Nhiều đình, chùa miếu được xếp hạng di tích không chỉ ở bản thân giá trị kiến trúc, nghệ thuật  mà còn ở giá trị lịch sử cách mạng.

 Những di tích chứng kiến và đánh dấu cho sự phát triển của làng xã có ý nghĩa lịch sử trên cả các giá trị vật thể của bản thân nó. Làng Cự  Đà còn có các con chó đá gần các cổng xóm như là biểu tượng cho sự làm ăn thịnh vượng của một thời đầu thế kỷ 20. Các bậc bến thuyền với cột đá để treo đèn gợi lại hình ảnh một thời buôn bán tấp nập trên bến dưới thuyền của làng.

Thôn Cầu, Thạch Bàn (Gia Lâm) tuy chỉ còn giữ lại được các thanh cột chống, giằng bằng đá của chiếc cầu cổ qua sông cũng cho ta thấy lịch sử tên gọi của làng, xuất phát từ chiếc cầu đá này được xây dựng.

Gía trị văn hoá xã hội

Dù yếu tố tự trị làng xã đã mất đi nhưng nó vẫn âm ỷ tồn tại và Đình, cổng làng chính là những công trình thể hịên rõ nét những yếu tố đó.

Đình là công trình văn hoá tiêu biểu nhất của làng xã. Việc ở Đình chỉ tổ chức những công việc mang tính tự nguyện của cả người dân thông qua các trao đổi với những người có uy tín trong làng, các trưởng dòng họ…Hịên nay Đình vẫn là niềm tự hào của người dân làng. Đình làng khang trang to lớn cũng chứng tỏ sức mạnh vật chất và tinh thần của cộng đồng làng đó.

Đình làng là không gian thiêng liêng nhất với dân làng. Rất nhiều cách ứng xử thể hiện sự tôn trọng nó. Ví dụ làng Lệ Mật di chuyển Chùa để lấy vị trí xây dựng đình. Đình làng Mông Phụ được đặt sao cho không ai quay lưng vào đình. Nhà ở hướng ra phía đình.

Chính vì vậy cho dù hịên trạng Đình như thế nào thì việc khôi phục lại các ngôi đình chỉ là vấn đề kinh tế, khi có đủ điều kiện nhiều làng tự quyên góp để xây dựng lại Đình mà không hoàn toàn trông chờ vào kinh phí của Nhà nước.

Chùa với ý nghĩa tín ngưỡng đạo Phật đã ăn sâu vào tín ngưỡng của người dân. Là dòng tôn giáo phổ biến trong các làng xã, tạo nên các giá trị tinh thần, niềm tin sống thiện, sống hoà đồng của người dân.

Cổng làng hiện nay hoàn toàn không còn giá trị chức năng mà chỉ còn giá trị tinh thần. Đó là khẳng định ranh giới của làng, một phạm vi của một khu vực cư trú truyền thống, thể hịên cái tôi của làng, sự tự hào về  ô nơi chốn ằ của làng . Đây chính là yếu tố mà nhiều khu vực dân cư đô thị mong muốn.

Không gian kiến trúc cảnh quan truyền thống là cơ sở để cho  các giá trị văn hoá phi vật thể tồn tại. Các hoạt động văn hoá truyền thống tại sân Đình , biểu diễn rối nước trên ao làng, lễ hội hàng năm, các không gian cổng làng, đình chùa, quán trên đồng là những không gian giao tiếp làm tăng tính cộng đồng làng xã.

Bảo tồn các giá trị di sản kiến trúc cảnh quan là bảo tồn một loại hình di sản đặc thù, khác biệt với việc bảo tồn công trình di tích.

Kiến trúc cảnh quan không phải là yếu tố tĩnh.

Chỉ có công trình kiến trúc khi xây dựng xong là đã kết thúc công việc, có thể xác định niên đại xây dựng để phục hồi như nguyên gốc mới xây dựng.

 Với cây xanh, giá trị hình thành của nó muộn hơn, phải mất hàng trăm năm một cây xanh mới có được vẻ đẹp cổ kính của cây. Không những thế trong hệ thống cây xanh, có những cây được bổ sung muộn hơn. Vì vậy tính nguyên gốc của yếu tố cây xanh không phải từ lúc cây được trồng mà phải qua một khoảng thời gian, từ thời điểm hình thái cây trưởng thành cho đến ngày nay. Trong đó giai đoạn hịên tại là quan trọng bởi chúng ta không thể phục hồi lại hình thái của cây như những giai đọan trước.

Khác với công trình kiến trúc khi mất đi có thể tôn tạo phục dựng lại được. Cây cổ thụ nếu bị mất đi chúng ta cũng phải mất hàng chục, hàng trăm năm mới có thể trồng lại cây khác thay thế. Trong thời gian đó, kiến trúc cảnh quan đã bị thay đổi cơ bản.

Cây xanh có quy luật phát triển và lụi tàn, độ tuổi của cây có giới hạn, các tác nhân sâu bệnh, sự thay đổi môi trường, của nước, sinh khí hậu cũng tác động đến cây và đến vẻ đẹp thẩm mỹ chung của cảnh quan.

 Hệ thống cây xanh trong kiến trúc cảnh quan có sự chọn lọc, bổ sung thường xuyên.

Thông thường trong quần thể đình chùa hay cổng làng, người dân ban đầu trồng một số cây, khi cây lớn mới lựa chọn những cây phát triển tốt, loại bỏ những cây yếu hoặc những cây có hình dáng, chủng loại không phù hợp. Đây là biện pháp chọn lọc tốt.

Tuy nhiên như vậy chúng ta cũng thường bắt gặp những cây mới trồng hoặc đã trồng một thời gian không phù hợp với cảnh quan làng xã nhưng vẫn được tồn tại (trường hợp những cây Dừa, Liễu cạnh cổng làng Mông Phụ). Sự chọn lọc của chúng cũng còn tuỳ thuộc vào quan điểm của người dân từng khu vực. Trong những trường hợp chọn lọc này, rõ ràng yếu tố gốc khó xác định mà lúc đó phải coi giá trị cảnh quan lịch sử như một giá trị hiện tại. Việc loại bỏ cây nào, giữ lại cây nào tuỳ thuộc vào việc nó có bổ sung, đóng góp cho giá trị thẩm mỹ của cảnh quan hay không, có làm thay đổi cảnh quan đó theo hứong tích cực hay không.

 Xác định yếu tố gốc của kiến trúc cảnh quan:  Yếu tố gốc của KTCQ là hình thái kiến trúc cảnh quan được hình thành tại thời điểm mà các thành tố cây xanh, mặt nước  đã có sự ổn định về hình thái phát triển tự nhiên. Tạo dựng được hình ảnh, dấu ấn trong cộng đồng.

Giá trị kiến trúc cảnh quan thường hình thành muộn hơn nhiều so với giá trị kiến trúc của công trình. Có độ vênh giữa thời điểm xác định giá trị kiến trúc và giá trị kiến trúc cảnh quan.

Công trình kiến trúc khi xây dựng xong đã hình thành nên giá trị kiến trúc, nghệ thuật. Có thể xác định rõ niên đại, ngày hoàn thành.

Kiến trúc cảnh quan do có sự tham gia của cây xanh nên thường hình thành giá trị muộn hơn thời điểm xây dựng công trình khoảng 30-50 năm. Không có một thời điểm cụ thể xác định giá trị. Khoảng thời gian xác định giá trị kéo dài hàng chục năm.

Sự tồn tại của di sản cũng có xu hướng ngược nhau giữa 2 thành tố. Trong khi thời gian càng lâu, công trình kiến trúc càng có nguy cơ đổ vỡ, hư hại thì thời gian càng lâu càng có thêm các giá trị do sự phát triển sinh học của cây.

Như vậy có độ vênh thời gian trong việc xác định niên đại của yếu tố gốc giữa công trình và không gian. Điều này cần được lưu ý bởi nó dễ tạo nên sự tranh cãi trong quá trình bảo tồn, tôn tạo.

Sự tranh cãi này ở việc gìn giữ giá trị cảnh quan hay gìn giữ giá trị kiến trúc. Nếu coi trọng việc bảo tồn kiến trúc, phải phục dựng lại theo đúng giá trị kiến trúc gốc có thể làm hỏng cảnh quan hiện tại.

dsktcq_11

Cổng thành Sơn Tây (cửa Tây), tạo nên dư luận quanh 2 quan điểm, bảo tồn nguyên gốc công trình hay bảo tồn cảnh quan. (ảnh: Internet)

 Trường hợp bảo tồn tôn tạo cổng thành cổ Sơn Tây là một ví dụ. Cổng thành cổ kính có một cây Đa lớn bên cạnh, vấn đề là rễ cây Đa đã bao trùm lên cổng thành, tạo nên hình ảnh cổng rất  cổ kính nhưng lại đang làm hư hại cổng. Nếu coi trọng cảnh quan phải giữ nguyên phần cây xanh bám vào cổng thành, thành cũ vẫn bị đe doạ hư hại. Nếu coi trọng phần kiến trúc, tôn tạo lại cổng sẽ phải chặt bỏ các rễ cây bám, điều này sẽ làm thay đổi cảnh quan.

Còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu để có thể đề xuất những biện pháp bảo tồn các di sản kiến trúc cảnh quan. Công tác nghiên cứu di sản kiến trúc cảnh quan làng xã truyền thống nói riêng và các di sản kiến trúc cảnh quan nói chung ở nước ta mới chỉ là bước đầu. Những chính sách, cơ chế bảo tồn còn thiếu. Đây là công việc lớn bởi các giá trị di sản kiến trúc cảnh quan ở nước ta cũng rất phong phú, việc xác định đúng đắn các giá trị sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn, gìn giữ tốt các giá trị văn hoá của dân tộc.

PGS. TS. Phạm Hùng Cường

Tham khảo

  1. Bài viết có sự tham gia của nhóm nghiên cứu: “ Bảo tồn các giá trị di sản làng Việt”. Phạm Hùng Cường , Phạm Bích Liên, Nguyễn Văn Luân. Nguyễn Văn Xưởng, Đặng Minh Tùng. Trường ĐHXD. 2008
  2. Phạm Hùng Cường. Làng Việt và những giá trị di sản Kiến trúc cảnh quan. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, tháng 5 năm 2009.
BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC