Giá trị Văn hóa Phi vật thể của mặt nước

Mặt nước văn hóa Phương Đông

  • Trong triết học Phật giáo: Nước (Thủy) có màu xanh dương, đứng hàng thứ hai trong ngũ đại là Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Khí đại và Không đại. Thủy đại có màu xanh dương tượng trưng cho sự chuyển hóa sân giận thành đại viên cảnh trí.
  • Trong Triết học cổ Trung Hoa: Nước đứng đầu trong Thuyết Ngũ hành là Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim. Nước có tượng sắc là đen hoặc xanh dương, tượng hình là dòng nước chảy mềm mại với đầy đủ thuộc tính tương sinh, tương khắc và phản vũ.

Trong Kinh dịch, nước là quái Khảm với tượng hình là hào âm bao ngoài hào dương với hàm ý bề ngoài thì mềm mỏng mà bên trong lại cương nghị.

  • Trong Phong Thủy: 

Nước cùng với gió được dùng để đặt tên của bộ môn này bởi sự kết hợp của hai quái Khảm và Tốn tạo ra sinh khí. Phàm là khí gặp gió thì tán, gặp nước thì tụ nên nước là phương tiện điều chỉnh trường khí trong phong thủy. Nước còn được xem là biểu tượng của tài lộc trong câu “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài.” Trong bố cục phong thủy hình thế, nước thườngở phía trước, bên trái và cách xa công trình đến mứcánh nắng hay ánh trăng không phản chiếu qua mặt nước vào công trình là tốt, trái lại là xấu. Mặt nướcở bên trái gắn với hìnhảnh của tả Thanh Long, mặt nướcở phía trước gắn với hình ảnh của minh đường tụ thủy là tốt cho tài lộc. Trong phong thủy, mặt nước đắc vị thìđại cát, mặt khác vào chỗ xấu thì hung hiểm khôn chừng. Về hình tướng của nước là hình dải ngoằn nghoèo thì tốt. Ao hình vuông như nghiên mực trước nhà chủ về đỗ đạt, khoa bảng. Ao hình tròn hay bán nguyệt chủ về tài lộc.

  • Nước trong văn hóa người Việt/ Văn minh lúa nước của người Việt

Trong Đạo Mẫu của người Việt có thờ Mẫu Thoải (Thủy). Thủy cung Thánh Mẫu 水宮聖母 (còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải 母水, chữ Thoải là đọc trệch từ chữ Thủy) là vị nữ thần dân gian Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý các miền sông nước.

Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, khi thắp hương Tổ tiên luôn có cơi trầu, chén nước, nén hương.

Trong truyền thuyết về nguồn gốc của người Việt cổ thì mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm con có năm người lên rừng và năm mươi người xuống biển; Lại có truyền thuyết về hai vị thần là Sơn Tinh và Thủy Tinh.

Trong đời sống lao động do cư dân Việt sống nhờ vào cấy trồng lúa nước làm lương thực; người dân chài thì sống nhờ tôm cá dưới nước nên rất coi trọng nước, nhiều nơi có tục rước nước trong lễ hội của mình.

Còn rất nhiều những ví dụ nói về vai trò và tầm quan trọng của nước trong văn hóa, tín ngưỡng của người phương Đông và người Việt nói riêng.

Lễ hội, tập quán liên quan đến mặt nước

  • Lễ

Lễ là những nghi lễ bắt buộc mang tính tâm linh trước khi diễn ra phần hội giành cho dân chúng. Với cư dân nông nghiệp, các nghi lễ tâm linh thường hướng tới việc tri ân Trời, Phật, Thánh và cầu xin mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân an vật thịnh. Cụ thể như Lễ rước nước, tế cá.

  • Hội

Sau khi hoàn tất các nghi lễ tâm linh thì chuyển sang phần hội cho dân chúng vui chơi.

  • Hội thổi cơm thi trên thuyền.
  • Hội đua thuyền.
  • Hội thi bơi.
  • Hội thi bắt vịt trong ao.
  • Hát quan họ, hát giao duyên, hát đối trên thuyền.
  • Múa rối nước.

 

Mặt nước trong ca dao, tục ngữ

Mặt nước trong ca dao, tục ngữ của người Việt được thể hiện rất phong phú, hồn nhiên trong sáng và trữ tình. Tình yêu với mặt nước của ao làng, giếng làng đã đi vào ca dao, tục ngữ…

  • Ca dao miêu tả phẩm chất giác ngộ qua vẻ đẹp của cây sen trong đầm với sự chuyển hóa những mặt tiêu cực thành phẩm chất giác ngộ.

Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

  • Tình cảm gần gũi gắn bó, thân thương qua hình ảnh ao ta, ao nhà.

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơn.

  • Phong cảnh hữu tình, lãng mạn, tình tứ của trai gái nơi làng quê bên không gian mặt nước.
Hỡi cô tát nước bên đàng,

Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?

Ước gì sông rộng một gang,

Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.

  • Phong cảnh đất nước đẹp hùng vĩ, hữu tình qua câu ca dao:

Yêu em anh cũng muốn vô,

Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Mặt nước trong sáng tác thơ của các tác giả người Việt được thể hiện rất mộc mạc, sâu lắng, hồn nhiên, trong sáng và trữ tình.

  • Nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng có những vần thơ hay về ao như:

Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

  • Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng có vần thơ hay về ao làng:

Ao làng vẫn nở hoa sen,

Bờ ao, vẫn chú dế mèn vuốt râu.

Mặt nước trong sáng tác nhạc của các nhạc sỹ người Việt được thể hiện rất sâu lắng, hồn nhiên, trong sáng và trữ tình ví như Khúc hát sông quê của nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo.

Tựu chung lại, các không gian mặt nước nơi làng quê, nông thôn Việt Nam đã đi sâu vào trong đời sống sáng tác thơ ca, ca dao, tục ngữ của người dân từ rất lâu đời cho tới hiện tại. Các sáng tác đầy tình cảm trong sáng và lãng mạn, mang đậm phong vị của nghệ thuật dân gian và đương đại

Mối quan hệ giữa văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo được tích lũy qua quá trình sống thể hiện sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.

Văn hóa vật thể được biết đến với các không gian vật thể, công trình, vật thể… được tạo ra từ một cộng đồng, một nền văn hóa làm phương tiện cho các sinh hoạt văn hóa tinh thần, tâm linh của cộng đồng đó.

Văn hóa phi vật thể là những giá trị, phương thức, nghi lễ… trong các sinh hoạt văn hóa, tinh thần, tâm linh của cư dân bản địa.

Văn hóa Vật thể và Văn hóa Phi vật thể là hai mặt tồn tại song song, nương tựa và chuyển hóa qua lại của Văn hóa, giúp cho sự tồn tại và phát triển bền vững của các cộng đồng chủ thể.

Tác giả

Nguyễn Công Thiện

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC