Không gian mặt nước đối với làng xã Việt Nam

Làng xã là mô hình cộng cư lâu đời nhất của người Việt, tạo ra các giá trị văn hóa tiếp nối đến ngày nay. Không gian mặt nước xuất hiện cùng với thời gian hình thành sự quần cư bởi đây là nguồn nước sinh hoạt và bao phủ lên mình những giá trị phi vật thể mang tính tâm linh, văn hóa, tinh thần trong suốt quá trình hình thành và phát triển tạo nên mối liên kết tinh thần không thể thiếu được trong quá trình phát triển hiện tại và tương lai. Tất cả các ngôi làng của người Việt đều ôm trong mình những không gian mặt nước đặc trưng mang tính tâm linh và đời sống vật chất, tinh thần của cư dân địa phương.

Không gian mặt nước trong đời sống và văn hóa dân cư làng xã ngoại thành

 Không gian mặt nước phục vụ đời sống thường ngày

  • Mấy chục năm về trước (trước năm 1985) người dân vẫn sinh hoạt hàng ngày gắn với ao làng do ngày đó nước ao làng vẫn rất trong, sạch sẽ và trong làng chưa hề có nước máy, có giếng khoan, mà chỉ có giếng khơi (là giếng đào bằng tay). Vậy nên người dân thường tắm, gội, giặt giũ ở ao làng hay ao nhà.
  • Cầu ao, bến ao là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng thông qua các hoạt động lấy nước, tắm, giặt, rửa…, trẻ em tập bơi…
  • Bến nước đầu làng là nơi rửa chân tay khi đi làm đồng về, rửa nông sản, rau củ trước khi ra chợ bán; trẻ con tắm cho trâu, vui đùa cùng nước…

Giờ đây, trong xã hội hiện đại thì hoạt động sống của người dân nông thôn mới ở ngoại thành  Hà Nội vẫn gắn bó chặt chẽ với các ao, ngòi, không những để sản xuất, sinh hoạt mà còn để nghỉ ngơi thư giãn. Đây có lẽ là chức năng quan trọng nhất của hệ thống ao, ngòi trong cuộc sống nông thôn mới. Không gian mặt nước ở các  ao ngòi luôn là nơi được người dân yêu mến nhất vì chúng là hiện thân của vẻ đẹp tự nhiên, vì chúng thật dễ tiếp cận và thật dễ chịu thư thái khi ở bên chúng. Người ta thường dừng chân bên ao ngòi mỗi khi nông nhàn, để tận hưởng làn không khí mát lạnh từ mặt nước trong những ngày nóng bức. Người ta đến bên bờ ao ngòi vào những sớm mai để tập thể dục, vào những lúc chiều tà hay những tối sáng trăng để tìm một thoáng yên tĩnh sau một ngày làm việc căng thẳng. Chẳng phải mất mát tốn kém gì để được gần kề với sự hiện diện tuyệt vời của tự nhiên trong thôn xóm.

Từ những dẫn giải trên, chúng ta có thể thấy được ý nghĩa đầu tiên của mặt nước các ao ngòi ở Hà Nội là ý nghĩa lịch sử. Thứ hai là ý nghĩa về mặt chức năng của chúng, là các không gian nghỉ ngơi thư giãn của người dân.

Không gian mặt nước phục vụ đời sống, lế hội tâm lĩnh

  • Làng xã là nơi khởi đầu các giá trị văn hóa và văn minh vật chất của người Việt. Trong đó, mặt nước và không gian mặt nước là thành phần không thể thiếu được.
  • Từ ngàn đời xưa, các cụ ta đã xây dựng đình làng với lối kiến trúc gắn liền với ao (hay còn gọi là ao đình) để tạo cảnh quan đẹp cho ngôi Đình làng và cũng gắn liền với ý nghĩa tâm linh trong đó. Đình làng được xây ở giữa hai ao làng nên hai ao đình này còn  được gọi theo tiếng Hán là “long nhãn” tức hai hai mắt rồng. Hoặc đình làng được xây theo lối kiến trúc với phía trước là hai ao làng.
  • Ao, hồ còn là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống mỗi khi nông nhàn, Tết đến xuân về như thi bơi, bơi thuyền, thổi cơm thi, bắt vịt…

    Hát Quan họ trên thuyền rồng trong ngày hội làng

    Lễ hội làng được tổ chức long trọng và có các cuộc thi như nấu cơm bằng niêu khi đi trên thuyền ao làng hay biểu diễn văn nghệ trên ao đình.

  • Thực hành các nghi lễcủa Phật giáo như thả hoa đăng và phóng sinh trong các khóa lễ, thả cá, ốc, cua…
  • Thực hành các nghi lễ rước nước của lễ hội truyền thống, thả cá chép ngày ông Công ông Táo 23 tháng Chạp hàng năm.Không gian mặt nước phục vụ sản xuất

Từ văn minh trồng lúa nước của người Việt và từ kinh nghiệm sản xuất các cụ đã đúc kết lên câu tục ngữ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

Câu tục ngữ đề cập đến 4 yếu tố quan trọng để đảm bảo cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt: Đầu tiên cây trồng cần nước, vì nước là một nhu cầu thiết yếu, thiếu nước cây không thể sống. Thứ hai cây trồng cần sự chăm sóc của nông dân: Phân bón hữu cơ – chất dinh dưỡng của cây trồng. Điều thứ ba là cây trồng cần sự cần cù chăm chỉ của nông dân thường xuyên ra đồng chăm sóc kịp thời như làm cỏ, vun xới, bắt sâu, tỉa lá,… Cuối cùng cây phát triển sinh trưởng tốt là nhờ giống cây, giống cây có vai trò liên quan đến năng suất chất lượng cây trồng.

  • Ao là nơi ngâm tre, gỗ để chống mối mọt khi làm nhà, đóng đồ, làm vật dụng sinh hoạt…, vùng làm chiếu cói, ao dùng để ngâm cây đay, cây cói.
  • Ao dùng để lấy nước canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản…thả sen, súng, rau muống, rau rút…
  • Ngoài ra, tất cả các ao ngòi ở ngoại thành Hà Nội đều có vai trò quan trọng trong việc chứa và thoát nước mưa cho thành phố vào mùa mưa lũ.

Không gian mặt nước trong môi trường và hệ sinh thái làng xã truyền thống

  • Không gian mặt nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái nhân văn và cảnh quan của làng xã truyền thống người Việt trong đó có khu vực ngoại thành Hà Nội.
  • Hệ sinh thái làng xã truyền thống là hệ sinh thái có tính độc lập, nhiều chu trình kép kín. Có phân hệ sinh thái hộ gia đình, sinh thái làng xã và quan hệ sinh thái đô thị- nông thôn

  • Sinh thái hộ gia đình: Nhà ở với mô hình vườn- ao- chuồng (VAC) có thể coi là một đơn vị cân bằng sinh thái. Tạo được các chu trình khép kín về dinh dưỡng, chất thải.
  • Sinh thái làng xã: Trong làng xã thuần nông, khu dân cư và đồng ruộng là hệ sinh thái cơ bản. Vòng tuần hoàn năng lượng, vật chất diễn ra khép kín trong làng xã. Các chu trình chất thải, chu trình dinh dưỡng được thực hiện với sự tham gia của con người và tự nhiên, ít có sự tham gia của các phương tiện kỹ thuật.
  • Nguồn lương thực thực phẩm tạo ra cơ bản trong phạm vi làng xã, đủ nuôi sống các thành viên làng xã, không phụ thuộc vào bên ngoài.
  • Các phế thải của người, vật nuôi, rác được tận dụng làm phân bón cho cây, cho lúa, làm thức thức ăn cho cá. Nước thải tưới rau hoặc chảy ra ao hồ, đồng ruộng. Vòng tuần hoàn của nước được thực hiện tốt với sự có mặt của hệ thống ao hồ, mặt nước phong phú.
  • Tận dụng các sản phẩm tự nhiên, tái sử dụng nhiên liệu và sản phẩm nông nghiệp: Đất vượt nền làm nhà, trở thành ao; cây trồng như xoan, tre làm nhà; đất làm gạch ngói; mái lợp rơm rạ, ngói. Chất đốt tận dụng phụ phẩm của nông nghiệp như rơm rạ, thân cây ngô. Tận dụng năng lượng mặt trời trong phơi sấy, lên men chế biến thực phẩm.

Nhìn chung, đặc điểm của hệ sinh thái làng xã truyền thống là các chu trình sinh thái cơ bản khép kín trong làng xã, ít có sự tham gia của công nghệ kỹ thuật, chu trình hoàn lại vật chất cơ bản phụ thuộc vào tự nhiên.

  • Mặt nước còn có vai trò bảo tồn và phát triển nguồn gen của hệ động, thực vật đặc hữu của làng xã phân hệ đất ngập nước.

Hiện nay, đây là khu vực chịu áp lực mạnh mẽ của đô thị hóa và phát triển kinh tế từ khu vực trung tâm khiến cho không gian mặt nước có những biến đổi sâu sắc theo hướng tiêu cực; sự thu hẹp nhanh chóng về diện tích và ô nhiễm nghiêm trọng từ nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất làng nghề thải ra trực tiếp không qua xử lý…

                                                                                                                                                                                                                      Tác giả

Nguyễn Công Thiện

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC