Khủng hoảng mô hình phát triển làng xã truyền thống

                                                                                                                                                                             PGS. TS.Phạm Hùng Cường- ĐHXD

  Sự tác động của quá trình đô thị hoá đến vùng nông thôn ngày càng rõ nét. Dẫu còn khoảng 70 % dân số sống ở nông thôn nhưng những gì đang xảy ra ở các làng xã truyền thống báo hiệu một xu hướng thay đổi toàn diện về môi trường kinh tế xã hội cũng như không gian cư trú. Không chỉ là những biến đổi ở vùng ven các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh,  tác động của quá trình đô thị hoá và những biến đổi kinh tế xã hội đang tác động toàn diện tới cả vùng nông thôn của các đô thị trung bình, nhỏ. Nơi các dự án khu đô thị, khu công nghiệp đang vươn rộng, đan xen da báo với đất nông nghiệp, tác động tới các làng xã vốn phân bố rải rác khắp vùng đồng bằng, trung du hay miền núi.

Rõ ràng đang có những biến đổi về chất trong cuộc sống kinh tế, xã hội vùng nông thôn, tiền đề của các biến đổi không gian mà những nghiên cứu về các quần cư nông thôn (làng xã) dường như cũng mới chỉ xới được bề nổi của nó mà chưa thấy được những nguyên nhân sâu xa đang tạo ra những biến đổi có tính quy luật, có thể làm thay đổi căn bản những gì làng xã vốn có từ hàng ngàn năm nay.

Nổi cộm nhất vẫn là các làng xã vùng đồng bằng sông Hồng, cái nôi của văn hoá Việt. Với lịch sử hình thành hầu hết từ khoảng vài trăm năm tới hàng ngàn năm trước, làng Việt đã ổn định về cấu trúc và chứa đựng các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể rất phong phú. Tuy nhiên những yếu tố cơ bản để cấu thành nên cấu trúc và các hệ thống giá trị văn hoá đó đang mất đi như một quá trình có tính quy luật tất yếu dù không mong muốn.

Nhìn nhận những yếu tố vốn là nền tảng của làng xã truyên thống, nổi bật lên 2 yếu tố đó là tính tự trị và nền kinh tế tự cung tự cấp quy mô nhỏ. Hai yếu tố này tạo nên mối quan hệ xã hội cộng đồng và một cấu trúc không gian khá ổn định. Hai yếu tố này tuy có những thay đổi về cấp độ một cách tương đối những nó vẫn là 2 đặc tính nổi trội tồn tại cho đến tận ngày nay.

Tính tự trị và một nền kinh tế nhỏ là hai yếu tố không thể tách rời để một cộng đồng tồn tại, các cá thể nương tựa vào nhau để vươn lên, sống được trong điều kiện thiên nhiên, xã hội khắc nghiệt. Trong thời kỳ phong kiến, khi mà chính quyền trung ương chủ yếu định hướng về mặt tinh thần, nghĩa vụ thì sự cố kết của cộng đồng với tính tự trị mới là quyền lực chính trị thực sự với con người. Kể cả trong thời kỳ bao cấp xã hội chủ nghĩa, khi đồng lương của nhà nước, các tiêu chuẩn phân phối chỉ với được tới vùng đô thị thì vùng nông thôn tính tự trị vẫn “âm ỉ tồn tại” bởi đó thể hiện quyền của một cộng đồng kinh tế tự cung tự cấp.

Đặc trưng kinh tế – xã hội với 2 tính chất đại diện là Tự trị- Tự cung tự cấp đã tồn tại qua nhiều giai đoạn và trong một cái vỏ bọc vật thể đó là không gian làng xã. Cái vỏ bọc ấy đã thích nghi với hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, hỗ trợ gắn kết với nhau và trở thành những hình mẫu phổ biến trong mọi làng xã. Cấu trúc luỹ tre, đường làng, ngõ xóm, đình chùa, tồn tại hàng trăm, hàng ngàn năm và tưởng chừng vẫn còn mãi mãi.

Nhưng mọi thứ đang thay đổi.

 Nhân tố  kinh tế- xã hội làng xã đang thay đổi. Đây chính là nguồn gốc của vấn đề,  không phải chỉ đơn thuần do nguyên nhân đô thị hoá.

Nền kinh tế thị trường đã xâm nhập và người dân nhận thấy rằng tự cung tự cấp đi liền với nghèo đói. Đất đai vốn đã nuôi người nông dân hàng đời bằng cây lúa với vòng sinh trưởng – tiêu thụ không ra khỏi làng thì giờ đây không nuôi nổi người dân. Những nguồn thu nhập có tích lũy của người dân làng phần lớn từ việc làm nghề phụ hay làm thêm trong đô thị chứ không phải từ cây lúa với những thửa ruộng nhỏ bé, manh mún.

Có hiện tượng làng để ruộng hoang, cho nơi khác đến cấy thuê để đi buôn bán hoặc làm nghề thủ công. Lao động phụ ở làng làm nông nghiệp, lao động chính phải bươn chải trong đô thị để làm nuôi gia đình. Sự tiếc nuối mất đất canh tác chỉ là trong tiềm thức quán tính còn thực tế các hộ dân nhất là các làng xã vùng ven đô mong chờ dự án đô thị lấy đất để có được một cơ hội đổi đời thực sự.

Khi nền kinh tế không gói gọn trong luỹ tre làng thì tính tự trị đương nhiên sẽ suy yếu dần. Những cộng đồng xã hội  với quan  hệ làng xóm, dòng họ, lệ làng vốn để người ta nương tựa trở nên yếu ớt, hình thức trước những nguồn lực để tồn tại thực sự đến từ bên ngoài.

Những tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, cờ bạc đến tận các làng xã cũng chứng tỏ sức mạnh của các yếu tố vốn không nằm trong hệ tư tưởng làng xã trọng Nho giáo đã xâm nhập tới làng xã rõ nét. Cùng với các hoạt động nghề phụ, lao động thời vụ trong đô thị, buôn bán tách khỏi làng xã phần nào phản ánh tính vươn lên của con người, sự mở rộng các quan hệ xã hội, tính tự chịu trách nhiệm của các cá nhân thoát khỏi sự ràng buộc của cộng đồng và luật lệ làng xã càng ngày càng rõ nét.

Trong cái biến đổi cốt lõi ấy, cái vỏ bọc không gian làng xã đương nhiên phải thay đổi.

Bộ xương cũ trong một cơ thể mới

 Nếu ví cấu trúc vật thể làng xã truyền thống như một bộ xương, thì bộ xương ấy đã có các đặc điểm vốn rất phù hợp với các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội lịch sử, hoàn chỉnh như bộ xương của cơ thể của con người.

Làng xã có luỹ tre bao bọc, có cổng làng, cổng xóm bảo vệ các thành viên, tăng thêm tính tự trị của làng xã. Làng xã với cấu trúc đường phân nhánh kiểu cành cây. Các không gian được phân cấp thứ bậc và hướng ra tuyến đường chung tạo nên tính cộng đồng. Sự gặp nhau hàng ngày trên đường làng, cùng làm việc chung tăng thêm quan hệ  cộng đồng ngõ xóm, láng giềng .

Ao hồ, vườn cây trong mối quan hệ sinh thái V-A-C cũng phù hợp với nền kinh tế tự cung tự cấp. Các chu trình sinh thái gần như khép kín trong làng, giữa làng với đồng ruộng xung quanh.

Ngôi nhà là một sở hữu của các cá thể nhưng lại nằm trong sự đồng điệu của một tiềm lực kinh tế, một lối sống vì vậy nó có một số hình dạng, hình mẫu khá thống nhất.

Nói một cách khái quát, đặc trưng nhất của bộ xương cấu trúc vật thể làng xã truyền thống là sự phân nhánh thứ bậc kiểu cành cây , cả về giao thông, về hạ tầng và  không gian. Cấu trúc hướng nội, khép kín hài hòa với một cộng đồng tự trị và nền kinh tế tự cung tự cấp.

Những biến đổi kinh tế xã hội giai đoạn gần đây đã tạo nên một loạt các chức năng mới trong làng. Hoạt động của các ngành nghề phi nông nghiệp như gia công đồ gỗ, sắt, dệt, may, chế biến thực phẩm, dịch vụ… đã tạo nên các chức năng mới như các khu vực tập kết nguyên vật liệu, sơ chế, sản xuất, các khu vực giao dịch và dịch vụ khác đi kèm.

Các hoạt động nông nghiệp cũng có những thay đổi, các trang trại kết hợp nông nghiệp và dịch vụ hình thành, minh chứng cho sự thành công của các mô hình sản xuất nông nghiệp mới.

Những loại hình nhà ở mới, đa dạng mọc lên theo sự phát triển của các hộ gia đình với mức sống, thu nhập, đặc điểm xã hội khác nhau. Ngoài những hộ khá giả do làm ăn, do anh em từ nước ngoài hỗ trợ, còn có nhà tạm cho sinh viên thuê, nhà trọ cho người nghèo tại những làng gần khu công nghiệp. Tính đồng nhất trong không gian ở tại làng xã không còn.

Đây chính là hình ảnh của một sức phát triển mới trong làng xã, một sự thay đổi về chất đang diễn ra với một tốc độ nhanh, tính phổ biến là rõ ràng.

Cũng có những làng xã vẫn im lìm sau lũy tre (chủ yếu là các làng thuần nông) nhưng bên trong nó cũng là những biến động ngầm mạnh mẽ. Các lao động chính làng xã đang hoạt động ngòai đô thị, trong làng chỉ còn các lao động phụ, người già, trẻ em. Những dòng kinh tế chủ lực đến từ bên ngoài cũng sẽ làm cho các làng xã biến đổi trong ngày một ngày hai.

Bộ xương yếu đuối

Với sự  biến đổi toàn diện kinh tế, xã hội hiện nay, làng xã như một cơ thể đang phát triển nhưng lại dựa trên một bộ xương cũ kỹ, nhỏ bé, thiếu vững chắc, dễ dàng đổ gẫy trước những biến đổi không thể kiểm soát.

Trước hết là một hệ thống hạ tầng không còn thích ứng với nhu cầu cuộc sống mới, chức năng mới. Nếu nhu cầu ở cần thiết là phải tiếp cận được giao thông cơ giới, khoảng cách tối đa không nên quá 50 m (cho yêu cầu xe cứu thương, cứu hỏa…) thì cấu trúc làng xã hiện nay không đáp ứng được nhu cầu này. Ngay cả với giao thông xe máy là phổ biến, những con đường gấp khúc không có tầm nhìn, đường cua trong làng cũng nguy hiểm cho việc đi lại.

Điều này đang rất mâu thuẫn với xu thế phát triển kinh tế, giao thông cơ giới không chỉ phục vụ việc đi lại cá nhân mà quan trọng là vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu vốn rất cấp thiết để phát triển các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp trong làng xã hiện nay.

Hệ thống thóat nước các làng xã cũng đang đứng trước nguy cơ gây ô nhiễm tại một nơi mà vốn được coi là sạch sẽ, môi trường trong lành hơn đô thị. Hệ sinh thái V-A-C tự hủy chất thải của các gia đình hầu như không hoạt động do thói quen dùng phân tưoi bón ruộng không còn, việc sủ dụng hóa chất, xà phòng… đã không cho phép các chu trình sinh học tự nhiên hoạt động. Hệ thống nước thải đổ ra cống chung là phổ biến, có cả phân tươi hoặc phân gia súc. Những cống chung lại chảy ra ao hồ tù đọng gây nên tình trạng ô nhiễm ở nhiều làng xã.

Những làng xã như Vân Hà (Đông Anh), Phong Khê (Bắc Giang), Đồng Kỵ ( Bắc Ninh)  hay các làng nghề ở Hà Tây (cũ) chứng tỏ một cấu trúc đã quá què quặt trước sự phát triển của những nhu cầu mới. Nếu ta đến xã Hữu Bằng (Thạch Thất ), ta sẽ không hiểu đây là làng hay một mô hình ở nào. Đường làng đã trở thành chợ, nhà ống san sát, các điểm sản xuất gỗ tung tóe khắp mọi nơi, những xưởng gỗ len lỏi ở các thôn qua những con đường lầy lội. Nhà xưởng nhiều nơi lấn át cả bãi tha ma ( Lạc Vệ – Bắc Ninh) và nghĩa địa trở thành nơi phơi miến  (làng Cự Đà- Hữu Hoà).

Sự phát triển của các làng nghề dưới tác động của nền kinh tế thị trường, khả năng kiểm soát môi trường yếu kém hịên nay dẫn đến hịên tượng khi chưa có nghề thì còn làng, khi nghề phát triển thì không còn làng nữa.

Đã đến những ngưỡng của sự tồn tại

Vấn đề là ở sự nhận thức. Nếu chúng ta không khẳng định rằng cấu trúc vật thể làng xã truyền thống vốn tồn tại hàng trăm, hàng ngàn năm nay đang đứng trước nguy cơ không thể tồn tại do những nhu cầu tất yếu của cuộc sống thì những tranh luận về giải pháp là không có ý nghĩa.

Khi các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội là cái gốc để hình thành nên quần cư thay đổi, các yếu tố tác động thứ cấp như  nhu cầu, phương tiện giao thông, nhu cầu ở cũng thay đổi, đương nhiên cấu trúc khu dân cư phải thay đổi.

Sự cải tạo hoặc chỉ nâng cấp nhỏ hạ tầng trên những khung cấu trúc cũ không phải là một giải pháp triệt để bởi cấu trúc cũ chứa đựng quá nhiều nhược điểm, như người trưởng thành vẫn phải mang trên mình một bộ xương trẻ em vậy.

Cần làm mới lại cấu trúc làng xã.

Điều này có vẻ như mâu thuẫn với yêu cầu tất yếu của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mà làng xã chính là cái nôi của văn hóa Việt. Nhưng văn hoá luôn là những hệ thống giá trị có tính thời gian, giai đọan nhất định và có tính sàng lọc. Việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống không có nghĩa là bắt một hệ thống cũ cùng tồn tại trong hoàn cảnh hịên tại mà nó không thể đáp ứng.

Nếu dự báo làng xã truyền thống sẽ không còn thì mới có thể tìm biện pháp giữ gìn được những giá trị văn hoá còn lại.

Đây cũng là một nghịch lý nhưng là một sự thực.

Cách đây 15 năm, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng phải giữ lại các làng hoa Ngọc Hà , Nhật Tân, Nghi Tàm trong lòng Hà Nội. Coi đó là một đặc trưng của Hà Nội vốn đan xen các chức năng nông nghiệp trong đô thị.

Chính vì nghĩ rằng còn giữ được nên cuối cùng các làng xã ấy biến mất. Nếu ngay từ giai đoạn 1990 ta xác định được rằng về quy luật các làng xã nông nghiệp sẽ không thể tồn tại trong lòng đô thị thì chúng ta sẽ phải nghĩ đến các biện pháp khả thi hơn để gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, các di tích, các cảnh quan đặc trưng của làng xã cũ trong không gian đô thị.

Làng xã hiện nay cũng vậy, nếu chúng ta không xác định phải đổi mới tòan diện thì những cái mong muốn gìn giữ sẽ không giữ được. Một môi trường sống ô nhiễm, xuống cấp, phát  triển tùy tiện không thể hy vọng giữ lại được những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống. Đình chùa bị xâm hại, giếng làng, ao làng bị lấp, nhà cổ bị phá đi, nhà ống san sát trong làng. Hiện tượng này không phải là hiếm trong các làng xã hiện nay, nhất là các làng vùng giáp ranh đô thị .

Sự thờ ơ và chậm trễ trong công tác quy hoạch nông thôn. Khủng hoảng mô hình phát triển.

Trong suốt 20 năm của thời kỳ Đổi mới, sự chú trọng mới chỉ tập trung vào phần đô thị. Không có một mô hình nông thôn mới nào được đề xuất, xây dựng thí điểm. Không có một mô hình làng xã đô thị hoá nào được tổng kết đánh giá mô hình phát triển. Các đồ án quy hoạch làng xã đô thị hoá phần lớn nằm trên giấy với nhiều ý tưởng bất khả thi.

Nhiều chính sách mới liên quan đến không gian làng xã như việc bố trí quy hoạch đất giãn dân, đất đền bù giải phóng mặt bằng thiếu tính nghiên cứu, hầu hết đều theo một mô hình chia lô nhỏ, thiếu sự gắn kết với lối sống của người dân và với không gian của làng xã cũ.

Các làng xã hoàn toàn bị động trước những dự án phát triển đô thị bao quanh. Các chủ dự án chỉ tính đến việc đền bù đất theo nghĩa vụ mà không tính đến trách nhiệm quy hoạch lại làng xã, nâng cấp hạ tầng hay ổn định đời sống của người dân trước những tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp. Trong làng xã sự phát triển cơ bản là tự phát, những hịên tượng chia nhỏ đất, kiến trúc mới , biến đổi không gian làng xã không được kiểm soát.

Có thể nói đây là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của các mô hình điểm dân cư công nghiệp. Sức ép biến đổi rất lớn nhưng mô hình cũ không thích nghi, mô hình mới chưa ra đời, chưa có mô hình cải tạo thí điểm thành công để có thể nhân rộng.

Giải pháp lập một cấu trúc mới trên nền cấu trúc cũ, xây dựng mô hình mẫu.

Cần thiết phải có một hệ thống không gian cư trú nông thôn đáp ứng tính đa dạng chức năng của thời kỳ đô thị hóa, công nghiệp hóa, thời kỳ tất yếu hình thành phát triển các hoạt động phi nông nghiệp tại vùng nông thôn.

Quân cư nông thôn không phaỉ chỉ là làng (nơi ở) + ruộng. Làng xã là tổ hợp phát triển nông nghiệp + phi nông nghiệp( công nghiệp nhỏ, tỉêu thủ công nghiệp, dịch vụ)  trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, kinh tế mở

Cần một cấu trúc không gian hướng ngoại, có khả năng liên kết rộng.

Cần một cấu trúc giao thông mạng thay thế hệ phân nhánh, tiếp cận tốt với giao thông cơ giới. Đi kèm là hệ thống cấp thóat nước đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường.

Cần lập lại một hệ sinh thái làng xã mở, trên quy mô rộng hơn. Không trông cậy vào hệ sinh thái tự nhiên sẵn có.

Đề xuất một mô hình cấu trúc làng xã mới:

Qua việc nghiên cứu về làng xã truyền thống và làng xã đô thị hoá, đúc rút từ lý lụân và thực tiễn, xin đề xuất một mô hình làm mới cấu trúc các làng xã truyền thống dựa trên các yêu cầu trên.

Đây là một đề xuất nhằm biến cấu trúc đóng của làng thành cấu trúc mở, tóm tắt với 5 nguyên tắc chính

ctlx

1.Thiết lập tuyến đường bao. Đây là giải pháp chủ đạo với đường ô tô bao quanh làng là kênh kỹ thuật liên kết làng xã với bên ngoài, với đồng ruộng , với các hoạt đồng kinh tế, sản xuất, với điểm dân cư mở rộng.

2.Nối thông các ngõ cụt ra đường bao, tạo liên kết giao thông dạng mạng.

3.Hệ thống thóat nước không dồn về trung tâm là mà phân tán ra biên, theo đường nối ngõ cụt với đường bao, dễ thu gom và xử lý nước thải.

4.Có một vùng biên là không gian mở phục vụ cho sự phát triển của các công trình công cộng: Chợ, trường học, khu thể thao, khu cây xanh. Đây cũng là đất dự trữ cho sự xuất hiện của các chức năng mới, quy mô mới.

5.Thiết lập các điểm sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung, cương quyết tách các sản xuất quy mô lớn, gây ô nhiễm ra khỏi làng xã.

 Có cấu trúc mở này, các phần bên trong của làng xã mới có điều kiện cải tạo, bảo tồn các công trình lịch sử ( đình, chùa, đền phủ…) và các cảnh quan có giá trị. (1)( 4)

Bảo tồn trọn vẹn cấu trúc một sô làng xã truyền thống tiêu biểu.

Bên cạnh việc lập mô hình mới cho làng xã, cần có sự bảo tồn trọn vẹn cấu trúc của một số làng cổ, lưu giữ được các giá trị của làng xã truyền thống  đã có những giai đoạn đóng góp cho kho tàng văn hoá của dân tộc về một mô hình cư trú đặc sắc. Các làng cổ này sẽ là điểm du lịch văn hoá hấp dẫn.

Hiện nay trong hàng ngàn làng xã vùng Đồng bằng sông Hồng, mới chỉ có các làng cổ ở Đường Lâm (Sơn Tây) được bảo tồn ở quy mô làng. Còn nhiều làng xã khác cần được xem xét công nhận là di tích lịch sử văn hoá để việc bảo tồn các giá trị văn hoá làng truyền thống có một quy mô xứng đáng với hệ thống giá trị của nó.

Vấn đề tam nông: Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân có mối quan hệ khăng khít với nhau trong quan hệ lớn Nông thôn – Đô thị. Việc phát triển các mô hình cư trú nông thôn không thể tách rời khỏi các yếu tố phát triển nông nghiệp, nông thôn – đô thị và các vấn đề xã hội vĩ mô khác.  Rất cần có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước để có các chính sách phát triển nông thôn một cách đồng bộ và toàn diện. Cần có các chiến lược phát triển nông thôn một cách rõ ràng, các bước đi và các chính sách cụ thể mới có thể hy vọng vào một tương lai tốt đẹp cho các làng xã.

Tài liệu tham khảo:

  1. Phạm Hùng Cường. Chuyển đổi cấu trúc làng xã vùng ven đô thị lớn đồng bằng sông Hồng thành đơn vị ở trong quá trình đô thị hoá. Luận án tiến sỹ kiến trúc 2001. Trường ĐHXD.
  2. Hoàng Đình Tuấn. Tổ chức không gian kiến trúc làng ngoại thành trong quá trình đô thị hoá ở Hà Nội đến năm 2020 với việc gìn giữ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống. Luận án TS. Trường ĐHKT Hà Nội năm 2000.
  3. Phạm Hùng Cường . Những vấn đề về sự chuyển biến cấu trúc khu ở trong các làng xã vùng ven Hà Nội. Bài báo, Tạp chí kiến trúc. Số 1-2000.
  4. Phạm Hùng Cường. Làm mới lại cấu trúc làng Việt. Bài báo, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam- Bộ Xây dựng. Số 4-2006
  5. Phạm Hùng Cường. Từ làng lúa đến thành phố tương lai.. Bài báo, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam- Bộ XD , số 5 , năm 2008
BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC