Kiến trúc đình làng ở Quảng Trị

Trong mỗi người con đất Việt nét đẹp hồn quê luôn gắn liền với những hình ảnh hằn sâu nơi tiềm thức cõi nhớ. Khi tiết trời hiu hắt rắc đều mưa xuân khắp mọi nẻo đường vùng miền đất nước thì cùng lúc lòng người cũng nôn nao khó tả. Như bao vùng đất khác, làng quê Quảng Trị vào ngày lễ tết là dịp ghi nhớ và tỏ lòng biết ơn lên các vị thần khai khẩn, khai canh, thủy tổ các tộc họ ở làng. Theo thông lệ sáng mồng một tết tất cả người dân trong làng đều tập trung đông đủ tại sân đình dâng nén hương thơm tỏ lòng tri ân bậc tiền nhân đi trước có công với làng nước.

Cũng tại đây mọi người gặp mặt san sẻ cùng nhau niềm vui nỗi buồn sau năm dài ngược xuôi bận bịu nghiệp mưu sinh; đình làng trở thành địa chỉ quen thuộc gắn kết tình nghĩa xóm giềng. Đình là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của cả cộng đồng: nơi thờ thần bảo hộ của làng là thần Thành Hoàng và các chư vị thần thánh trong một ý niệm “bách thần sở hội”, nơi diễn ra các hoạt động nhóm họp, bàn bạc việc công làng xã, tổ chức lễ hội vào nhịp tết lễ xuân thu nhị kì…. Vậy nên những hình ảnh đình làng thân thương đã đi vào ký ức bao nhiêu thế hệ con cháu, để rồi dù có đi đâu làm gì họ vẫn luôn ngưỡng lòng về quê nhà. Nơi có mái đình cong cong tọa lạc ngay giữa làng theo năm tháng phả hình lên con sông hiền hòa xanh trong. Kết nối bên cạnh ngôi đình trầm mặc uy nghi là bến đò thơ mộng nơi chuyên chở những người dân làng qua lại hàng ngày. Từ đó bến đò quấn bước chân người xa quê nỗi hoài vọng khôn nguôi về hình ảnh quen thuộc cây đa – bến nước – sân đình. Xuất phát từ trong ý niệm ấy đã hình thành nên lối xây dựng đình làng tuân theo luật phong thủy.

Khi xây dựng, vị trí được chọn để đình tọa lạc thường dựa vào địa thế sơn thuỷ hữu tình, ở đó không chỉ mang lại vẻ đẹp cho cả làng, thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội, vui chơimà còn ứng với thuật “phong thủy”. Một quan niệm về địa cuộc để dân làng có được một mãnh đất trù phú, ăn nên làm ra, cuộc sống đầy đủ sung túc.

Ðình không nhất thiết phải dựng trên gò cao, nhưng phía sau và hai bên cần có những chỗ đất cao để làm “tay ngai” (tay Long, tay Hổ) và mặt trước đình cần có nước. Ðó là thế đất “tụ thuỷ” mà “tụ thuỷ” cũng có nghĩa là tụ “Linh” và “Phúc”. Ðất dựng đình đặc biệt cần tránh những nơi sụt lỡ, nơi “thoái thuỷ”. Bên cạnh yếu tố tụ thuỷ nếu có thêm yếu tố “tụ sơn” hay địa hình nổi lên gò đống như hoa sen, rồng lượn, phụng múa, rùa bò (trong quan niệm tứ linh) thì càng tốt.

Vì vậy hầu hết các ngôi đình làng khi xây dựng đều có thế đất đẹp. Như đình Lập Thạch (thành phố Đông Hà) tiền đường hướng mặt ra phía dòng Thạch Hãn, hậu chẫm dựa lưng vào núi, ruộng đồng trù phú. Hay đình Nghĩa An, Mai Xá (Gio Linh) mặt trước đình hướng ra dòng Hiếu Giang xanh trong, yên ả…

Ông Ngô Hữu San, ở làng Nghĩa An, phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà, cho biết: “Đình Nghĩa An được xây dựng từ năm bính thân 1716 và đến nay đình làng trãi qua hai lần tôn tạo lớn năm 2006 và 2009. Con cháu trong làng dù ở xa bao nhiêu hàng năm cũng luôn hướng lòng về đình làng. Hiện ở làng Nghĩa An có 10 dòng họ và hàng năm cứ vào ngày mồng một tết tất cả các vị chức sắc của làng cùng các trưởng họ làm lễ xong thì cùng dân làng rẽ về các nhà thờ họ làm lễ và trẩy hội xuân.”

Đa phần các đình làng ở Quảng Trị đều được tạo dựng theo lối kiến trúc dân gian truyền thống đó là mô thức nhà rường 5 gian 2 chái hay 3 gian 2 chái, họa tiết trang trí bởi nét đặc trưng theo hình thức khắc chặm trên gỗ hay đắp nổi và ghép mãnh sành sứ ở các mái đình, cổng trụ, bình phong. Đây là nét kiến trúc đặc trưng của các đình làng ở miền trung cũng như ở Quảng Trị. Nhìn chung đó là phong cách trang trí phổ biến vào thời Nguyễn (thế kỷ 19). Những đề tài trang trí này đều xoay quanh mục đích thể hiện quan niệm, triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan theo quan điểm đạo Nho; đồng thời gửi gắm những điều ước muốn cầu cho vật thịnh, dân an, ấm no, hạnh phúc của người dân làng xã. Ðặc biệt, ở đình làng Nghĩa An, người ta còn gắn bức hoành phi 4 chữ Hán: Mi mục cải quan (Chớp mắt đã nhìn thấy sự thay đổi) với một hàm ý đầy tính triết học.

Hay đình làng Trung Chỉ ( thành phố Đông Hà), Câu Nhi ( huyện Hải Lăng) với lối trang trí các cột kèo bên trong là những họa tiết trang trí khắc chạm trên gỗ hết sức tinh sảo. Điều đó cho thấy đình làng là nơi kết tụ những tinh hoa của thời đại và lòng tôn kính mà người thợ muốn gửi gắm khi xây dựng.

Kiến trúc đình làng ở Quảng Trị từ xưa đến nay được sắp xếp theo 3 dạng: Một là những ngôi đình có bố trí mặt bằng chỉ gồm một toà đại đình nằm theo chiều dọc (đình Bích La); mặt tiền mở ra từ gian chái dạng này xuất hiện chủ yếu ở thời điểm những thế kỷ 17 – 18, tuy nhiên hiện nay không còn nguyên bản vì đa số đã thay đổi và chuyển sang bố trí theo chiều ngang; ví như: đình làng Nghĩa An, Hà Thượng. Hai là đại đình chỉ gồm một nếp nhà nằm ngang như: đình Trung Chỉ. Ba là gồm hai nếp nhà song ngang bố trí theo lối chữ nhị, ngôi nhà trước là tiền đường làm nơi tổ chức các cuộc hội họp, ăn uống; ngôi nhà sau là hậu liêu làm nơi thờ cúng; ngăn cách giữa hai nếp nhà là hệ thống cửa bản khoa. Ngoài ra, trong khuôn viên của nhiều ngôi đình còn có một số ngôi miếu thờ như: Bổn thổ Thành Hoàng, thuỷ tổ các tộc họ, các vị nhân thần hoặc nhiên thần như Ðình Lập Thạch, Câu Nhi ( huyện Hải Lăng), Hà Thượng ( huyện Gio Linh), Bích La ( huyện Triệu Phong)….

Mỗi ngôi đình thường được giới hạn trong một khuôn viên cụ thể, có cửa vào đình được xây bằng những trụ biểu cao. Ðặc biệt cũng có những đình cổng đi vào là một nghi môn được kiến trúc theo kiểu vòm cuốn, bên trên có gác vọng lâu từ 1 đến 2 tầng được trang trí rất đẹp như: nghi môn đình Lập Thạch, đình Trung Chỉ, đình Nghĩa An…. hay kiến trúc kiểu Gô- tích kết hợp kiến trúc phương Đông thuộc nghi môn đình Hà Thượng.

Thường trong xây dựng đình làng thì qua nghi môn, ở trong sân, được xây một bức bình phong. Bức bình phong dùng để chắn tà khí, chắn những cặp mắt xoi mói xấu xa, trần tục nhìn vào đình. Thường các bức bình phong được xây bằng gạch và trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa với hình long mã chở lạc thư, long mã phụ hà đồ, mặt hổ phù… Xung quanh là các tiểu cảnh hoa lá, chim muông dùng để trang trí. Ðây là những hình ảnh thể hiện lòng ước mong của dân làng về mọi điều tốt đẹp sẽ đến trong cuộc sống.

Kiến trúc đình làng dù có khác nhau về quy mô, diện tích sử dụng nhưng đều thống nhất tương đối ở việc bố trí mặt bằng nội thất. Ðó là việc phân định không gian nội thất thành 2 phần là: tiền đường và hậu liêu. Tiền đường thường được dùng làm nơi sinh hoạt, hội họp, ăn uống. Hậu liêu làm nơi thờ tự, là chốn trang nghiêm.

Ðình làng vùng Quảng Trị dù chỉ là một toà đại đình hay hai nếp nhà song ngang thì phần tiền đường thường để thông thoáng với bên ngoài. Kiến trúc đình làng được xây dựng theo một mô thức kiến trúc độc đáo mà người ta quen gọi là kiểu nhà Rường với kết cấu của một bộ khung gỗ chịu lực có từ 3 đến 5 gian và 2 chái, được liên kết bởi các thành phần cấu kiện gỗ lại với nhau. Nó không giống như cấu trúc khung gỗ chịu lực ở kiến trúc miền Bắc và càng khác biệt so với kiến trúc ở miền Nam.

Đình làng ở Quảng Trị thường có 2 dạng vài kèo: vài chồng và vài luôn. Các bộ phận ở gian chái thường được kết cấu theo kiểu chái kép. Có thể coi đình làng Trung Chỉ là một kiến trúc có bộ khung gỗ được trang trí đẹp nhất của vùng Ðông Hà nói riêng và của cả Quảng Trị nói chung; xứng đáng trở thành một di sản quý về nghệ thuật điêu khắc đình làng miền Trung.

ÔngLê Văn Vịnh, ở làng Trung Chỉ, Phường Đông Lương, thành phố Đông Hà, nói: “ Lâu nay cứ vào hăm mấy tết là các cụ bô lão chức sắc trong làng đến đình bàn bạc việc cúng đình cho năm mới. Tập trung con cháu về đình lau chùi vệ sinh nhằm nhắc nhở lớp thế hệ trẻ biết trân trọng giữ gìn phát huy những giá trị mà cha ông đã để lại. Theo thông lệ hai ngày tất niên cuối năm và hạ niêu bà con trong làng đều tự giác đến thắp hương chung tay làm cỗ cúng thần tại đình và miếu thờ.”

Đến nay bộ khung gỗ làng Trung Chỉ vẫn còn nguyên vẹn dẫu trải qua chiều dài lịch sử với sự tàn phá bom đạn trong hai cuộc chiến tranh và sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian nhưng người dân làng Trung Chỉ vẫn giữ gìn nét đẹp ấy còn mãi đến bây giờ.

Quảng Trị là mãnh đất có khí hậu khắc nghiệt nên khi xây dựng đình làng để chống chọi với gió bão, thì các bờ nóc, bờ dải đều được đắp to, đè mái chắc chắn nhưng được cách điệu trang trí rực rỡ nhờ việc gắn lên trên đó các hình ảnh thuộc bộ “tứ linh”, giao lá…bằng nghệ thuật đắp vữa, ghép mãnh sành sứ, làm cho bộ mái nhẹ nhàng hẳn đi và có cảm giác như vút lên. Với những ưu điểm như thế, bộ mái của ngôi đình vừa có vẻ cứng cáp và mảnh mai nhưng không yếu ớt, vừa thích hợp với môi trường khí hậu của miền Trung đồng thời phù hợp với thẩm mỹ và cảnh quan của kiến trúc tại Quảng Trị.

Đình làng ở Quảng Trị có nhiều nét khác biệt về kiến trúc, văn hóa làng so với những vùng miền khác của miền Bắc hay miền Nam. Điều này đã tạo nên nét đặc trưng riêng cho đình làng ở Quảng Trị.

Chính những nét đẹp văn hóa hiện hữu cùng thời gian vượt qua sự xáo mòn nghiệt ngã của quy luật sinh diệt, con người Quảng Trị bao đời nay nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác ý thức bảo vệ phát huy tôn tạo nhữn giá trị văn hóa lịch sử cho lớp người đi sau mãi ghi nhớ nguồn cội, kế thừa các chân giá trị trong đời sống cộng đồng. Muốn phát huy điều đó cần sự chung tay của mỗi cá nhân cùng các cơ quan chức năng nhằm bảo tồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trường tồn cùng năm tháng. Để dù có đi đâu làm gì thì những giá trị ấy mãi trở thành hồn làng đưa mỗi người tìm về chốn bình yên sau bao đổi thay của thời cuộc.

Phan Bảo Hòa

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC