Làng An Thái

An Thái là một làng thuộc xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì. (ở phía Đông Nam thành phố Việt Trì).

Vị tri làng An Thái

An Thái là ngôi làng cổ nằm trên địa bàn Kinh đô Văn Lang – trung tâm nước Văn Lang thời kỳ các Vua Hùng dựng nước; nơi có phường Xoan An Thái, một trong bốn phường Xoan của tỉnh Phú Thọ, gắn liền với di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại – “Hát Xoan Phú Thọ”. Đình An Thái đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc – nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 19/2006/QĐ-BVHTT ngày 26/01/2006. Trước đây gọi là làng An Thai. Sở dĩ có tên như vậy bởi truyền thuyết kể lại rằng, xưa kia khi Vua Hùng cùng vợ đi qua mảnh đất này, hoàng hậu chuyển dạ nhưng chưa sinh được; thấy vậy người dân trong làng cử cô Quế Hoa – một người con gái hát hay ra hát cho vợ vua nghe; khi bài hát kết thúc cũng là lúc hoàng hậu “vượt cạn” thành công, sinh hạ ra một chàng hoàng tử khôi ngô tuấn tú; từ đó Hùng Vương đặt tên cho ngôi làng là An Thai.

Công trình tôn giáo tín ngưỡng

  • Đình làng An Thái

Cổng làng An Thái

Đình An Thái được xây dựng trên đỉnh một quả đồi cao hình bát úp (nhân dân gọi là núi Đình) nằm ở vị trí trung tâm của làng. Theo truyền ngôn kể rằng, đình nằm trên lưng con rùa, có địa thế cao ráo, dốc thoai thoải, phía trước của đình là hồ Thiếc; có thể nói đây là một địa thế đẹp “Sơn thủy hữu tình”. Mở đầu cho khuôn viên đình truyền thống là Nghi môn tứ trụ. Trụ lớn trên đỉnh đắp 4 hình chim phượng nhìn ra 4 phía, chống đuôi vào nhau theo kiểu lá lật; dưới hình phượng là bốn mui luyện trên mặt đắp nổi hình hổ phù càm chữ Thọ, là biểu tượng liên quan tới việc cầu no đủ và mọi nguồn hạnh phúc; phần dưới là khối đèn lồng đắp “Tứ linh”. Trụ nhỏ đỉnh đắp hình lân trong tư thế chầu vào. Nghi môn tứ trụ đình An Thái mở 3 lối đi, 2 lối đi phụ 2 bên tạo kiểu cửa hình vòm, phía trên tạo 4 mái đao cong đắp giả ngói ống.

Đình làng đã được tu bổ sửa sang.

Có thể nói, nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc đình An Thái là một sự thao diễn kỹ thuật nghề mộc một cách tinh tế của nghệ nhân có tay nghề cao. Những người nghệ nhân dân gian bằng những kỹ thuật tinh xảo được hun đúc qua bao thế hệ cha truyền con nối đã để lại cho hậu thế không chỉ là công trình kiến trúc tín ngưỡng vượt ra khỏi giới hạn không gian làng quê, góp mặt vào kho tàng kiến trúc – nghệ thuật của Việt Nam.

Đình An Thái không những có giá trị về mặt kiến trúc, điêu khắc dân gian thuần Việt, hệ thống cổ vật, mà còn là nơi hội tụ, trình diễn nhiều nét văn hóa phi vật thể  và là nơi gắn kết của cộng đồng dân làng.

Lễ hội hát xoan được tổ chức tại Đình

  • Miếu làng

Miếu làng An Thái hay còn gọi là Hùng Vương Miếu Tổ. Trong đó có 73 xã, thôn thờ Hùng Vương và tướng của Hùng Vương, nhưng chỉ có đình thôn Việt Trì thờ Thánh Tổ Hùng Vương và làng An Thái tổng Phượng Lâu huyện Phù Khang, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây là có Hùng Vương Tổ Miếu. Năm 1948 giặc Pháp đã đốt đình Việt Trì, như thế chỉ còn Hùng Vương Tổ Miếu là ngôi miếu cổ nhất và kiến trúc độc đáo nhất, có một không hai ở nước ta. Kiến trúc Hùng Vương Tổ Miếu y như kiểu nhà sàn khắc trên trống đồng. Đó là nhà sàn của thời đại Hùng Vương. Gọi là miếu nhưng không to lớn, một chiều dài 5m, một chiều rộng 3m, diện tích chừng 15m2, 4 góc là 4 cột lim to, đường kính chừng 35cm, mặt sàn lát gỗ, cao cách mặt đất 80cm, xung quanh đóng đố lát ván. Vì làm từ lâu đời ở 2 đầu hồi miếu, gỗ đã mọt và rượp nên các cụ trong ban quản lý di tích ở đây đã xây và lợp hai mái ngói trùm lên ngôi miếu cổ này để bảo vệ.

Ngôi miếu này nhân dân địa phương thường gọi là: “Ngọc Am” (có nghĩa  nơi thờ cúng) hoặc “miếu cấm” (miếu ở rừng cấm). Gọi như vậy, có lẽ để giữ bí mật, tránh sự nhòm ngó và phá hoại của kẻ thù. Vì thế Núi Cấm trở thành “địa linh”. Chúng tôi được nghe rất nhiều huyền thoại về vùng đất này.

Ngôi miếu được dựng ở đỉnh Núi Cấm, rất bằng phẳng. Ở đây các cụ già làng có kể răng Núi Cấm rộng tới 6 hécta, ngày xưa rất rậm rạp, nhiều cây cổ thụ, có nhiều chim chóc, muông thú, thậm chí có cả hổ, báo. Xung quanh núi là đầm nước sâu bao bọc, mùa mưa sâu tới 4-5m, mùa cạn cũng sâu tới 2-3m. Đầm Rộng mênh mông, nước từ Đền Hùng đổ về và thông với sông Lô. Đầm này rất nhiều tôm cá… Ngày nay dân An Thái gọi là Đầm Thiếc. Trước đây đường vào Núi Cấm chỉ có một con đường đất, độc đạo ở phía Đông Bắc, phải đi qua núi Trống, ở đó có người canh gác. Giao thông chủ yếu của dân làng là thuyền độc mộc.

  • Chùa

Chùa làng An  Thái được dựng về sau này. Quay mặt đối diện với Miếu Cấm, cách nhau bởi đầm thiếc.

Nhà ở và cổng nhà ở

Nhà cổ ở An Thái hiện nay không còn nhiều, chỉ còn vài ba ngôi nhà. Nhiều ngôi nhà trong tình trạng xuống cấp, nếu không có sự quan tâm của chính quyền e rằng người dân sẽ phá dỡ để làm nhà mới. Cổng nhà ở gần như là không còn.

Cảnh quan tiêu biểu

  • Giếng làng

Làng trước đây có 4 ngôi giếng chung từ thời xưa, nhưng dần dà không con được sử dụng và cũng không được người dân quan tâm bảo vệ nên đã bị sập mất ba giếng nay chỉ còn lại một giếng gọi là giếng Tè.

Giếng làng được kè bằng đá ong nên nước rất trong và mát và chưa bao giờ thấy nước cạn. Các cụ kể rằng, một cái giếng này bé thế thôi nhưng cả mấy xóm dùng chung chưa bao giờ thấy cạn. Nền giếng được lát bằng đá ong rộng khoảng 30m2 , bên cạnh giếng còn có cây Si trăm tuổi, tạo nên một không gian sinh hoạt chung cho cả làng. Nhưng bây giờ nền đá ong đó đã bị phá vỡ, giếng làng bị bỏ hoang không được người dân và chính quyền chú ý tôn tạo.

Do vị thế làng nằm trên một quả núi thấp, với một đầm nước lớn (đầm Thiết). Đầm nước này được xem như là ao làng. Tuy nhiên diện tích của đầm ngày càng bị thu hẹp do mở đường, lấp đất làm nhà.

Hồ Thiếc nhìn từ cổng chùa Hồ Thiếc nhìn từ cánh đồng làng
  • Lũy tre làng

Lũy tre xanh được người dân trồng rải rác khắp làng. Bờ bè kênh mương, trong vườn nhà… đặc biệt là lũy tre xanh bao phủ bao bọc xung quanh làng.

Các giá trị văn hóa phi vật thể

Làng An Thái là một làng thuần nông nên không có làng nghề đặc biệt nhưng bù lại nơi đây là nơi phát tích của làn điều hát Xoan , một di sản phi vật thể tiêu biểu của Việt Nam.

Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các vua Hùng. Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới.

Hội hát xoan tại làng An Thái

Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, vua đi đánh giặc qua làng An Thái, vợ vua đau bụng mãi không đẻ. Làng An Thai (tên trước của làng An Thái) có bà Quế Hoa múa dẻo, hát hay. Nhà vua mời đến hát cho vợ vua nghe, hát từ An Thái qua Kim Đức sang đến Cao Mại (nay là thị trấn Lâm Thao, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) thì vợ vua sinh không một chút đau đớn. Nhà vua mới mời bà Quế Hoa ở lại trong cung ở bên Cao Mại. Vì thế, làng đổi tên từ An Thai sang An Thái. Và hai làng từ đó kết nghĩa anh em.

Từ năm 2011, sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, hát Xoan ở làng An Thái đã được các cấp chính quyền địa phương chú trọng bảo vệ và giữ gìn.

Đánh giá cảm nhận

Làng An Thái là một làng cổ giàu truyền thống đặc biệt với di sản phi vật thể hát xoan.  Làng có vị trí có thể nói là phong cảnh hữu tình, làng nằm dựa núi với hồ nước sâu bao bọc xung quanh tạo nên cảnh sắc rất thơ. Tuy nhiên làng lại không có được sự quan tâm của cộng đồng và chính quyền  địa phương nên cảnh quan hữu tình dần bị phá vỡ. Núi bị xẻ lấy đất để làm đường, hồ dần bị lấp, các di sản cổ không được giữ gìn chăm chút.

Thanh Thúy

Tin liên quan

http://disanlangviet.com/di-tim-ngoi-mieu-co-nhat-viet-nam/

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC