Làng Cổ Bi

Làng Cổ Bi hồi cuối thời Lê đầu thời Nguyễn là một xã thuộc tổng Đặng Xá huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc (từ năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh), có ba thôn: Hoàng (Vàng ), Cam và Hội. Năm 1926, làng có 1273 nhân khẩu.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong kháng chiến chống Pháp, Cổ Bi vẫn là một xã mang tên Trung Thành thuộc huyện Gia Lâm, tỉnh Hưng Yên, đến năm 1949 lại thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đến tháng 4-1961 xã Trung Thành cùng với các xã trong huyện Gia Lâm được cắt chuyển về Hà Nội. Năm 1965, xã Trung Thành được trở lại tên Cổ Bi.

Cổ Bi nằm giữa đồng bằng xứ Kinh Bắc, lại tiếp giáp Kinh đô Thăng Long, có sông Nghĩa Trị chảy qua, kề cận đường Thiên lý phía Đông (Quốc lộ số 5 ngày nay), nên được coi là một trong ba nơi “hiểm” đối với Kinh đô Thăng Long. Từ xa xưa đã có câu: “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Sở” (Cổ Sở tức làng Giá, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây hiện nay). Vì thế, Cổ Bi từng được coi là đất của đế vương.

Cổ Bi sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng. Từ năm 1942, tại đây đã hình thành tổ chức Việt Minh. Đầu năm 1943, toàn thể dân làng Cổ Bi, cả các chức dịch đều đồng lòng cầm gậy gộc, liềm hái ra đồng ngăn chặn và bao vây bọn lính Nhật, khiến kế hoạch phá lúa trồng đay của chúng thất bại. Cuộc đấu tranh này đã mở đầu cho cả một phong trào chống Nhật bắt phá lúa trồng đay lan rộng trong nhiều làng xã của huyện Gia Lâm.

Ngày nay, Cổ Bi trở thành xã ven đô, có nhiều dự án phát triển công nghiệp và khu đô thị.

I.Làng Cam:

Di tích ở đầu Làng Cam

1.Đình làng Cam:

Không gian đình làng Cam

Đình làng Cam có từ thế kỷ thứ X đời nhà Lý.

Năm 1683 đình được trùng tu xây dựng lớn.

Năm 1947 giặc Pháp đốt cháy ngôi đình cổ của làng.

Năm 1996 đình được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa.

Năm 2004 khôi phục lại đình cổ.

Đình không chỉ là nơi thờ phụng Thành hoàng – vị thần của làng mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng dân cư. Với diện tích sân đình rộng, đình làng Cam là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa thể thao hằng ngày và là nơi hội họp của thôn.

Vị trí Đình Làng Cam

2.Ao đình:

Nằm bên cạnh đình làng Cam, có hình chữ nhật với kích thước khoảng 30x60m.

Không gian ao đình

Xung quanh ao đình được bao bọc bởi đường làng được bê tông hóa kiên cố. Ao đình vẫn giữ được nét thanh bình như ngày nào. Tuy nhiên không gian của ao đang ngày càng bị phá vỡ. Giữa ao mới xây thêm đài tưởng niệm liệt sỹ. Tuy cuộc sống ngày càng hiện đại và đổi mới nhưng ao đình có vị trí quan trọng trong đời sống của người dân chính vì vậy mà được gìn giữ cho đến ngày nay.

II. Làng Hội:

Đình Chùa làng Hội:

Đình và chùa làng Hội nằm gần nhau, cách nhau bởi một bức tường. Đình và chùa nằm ngay bên đưòng vào trung tâm của làng. Đối diện phía trước đình là ao đình.

Hiện nay đình và chùa chưa được quan tâm một cách xứng đáng. Với diện tích không rộng lắm tuy nhiên  không gian xanh trong đình và chùa ngày càng ít đi.

Có một số gia đình sinh sống ngay trong phần đất chùa. Chính vì vậy mà chùa làng Hội không có cổng phải đi nhờ qua cổng đình làng. Hiện nay ngôi chùa đang bị xuống cấp nghiêm trọng.

III. Làng Vàng:

Làng Vàng tên chữ là Hoàng Thôn nằm trên đất Hương Cổ Bi – nay thuộc xã Cổ Bi. Vùng đất Cổ Bi có dấu ấn văn hoá và niên đại của thời kỳ khởi nghĩa Hai Bà Trưng thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ văn hoá Đông Sơn, thời Trần thế kỷ XIII- XIV.

1.Chùa Vàng: tên chữ là chùa Giáo Linh.

Theo lịch sử của những tấm bia còn lưu giữ được, vị tăng trụ trì – chùa Giáo Linh thôn Vàng xã Cổ Bi huyện Gia Lâm đã cùng các vị hương lão, sắc mục, lý dịch,..Vào năm Nhâm Tý 1825 đã tu tạo 5 gian nhà Thiên Hương, 7 gian Hậu đường và hai bên là tả hữu hành lang mỗi toà 9 gian.

Năm Quý Sửu 1853 lại trang hoàng tô lý lại toà tượng Phật trong chùa.

Năm Giáp Dần 1854 tu tạo lại 7 gian Tiền đường và 3 gian Tổng quan.

Năm Đinh Tỵ 1857 tu tạo lại Hoành phi câu đối thờ.

Năm Quý Dậu 1873 tu tạo lại lầu gác chuông và 5 gian thờ Tổ, các nhà ở tả hữu đều được sửa chữa đổi mới, đồ thờ, tự khí đều được sắm đầy đủ.

Chùa được tôn tạo gần đây nhất vào năm 2003.

Không gian chùa làng Vàng

Vị trí chùa làng Vàng

2.Đình Vàng:

Qua nhiều thế kỷ dáng vẻ đền xưa không còn. Ngôi này thôn Vàng hiện nay được dựng vào năm Bảo Đại nguyên niên (1926). Đình Vàng làm kiểu chữ Tam.

Toà đại đình 7 gian, Hậu cung 2 lớp, mỗi lớp 3 gian, ở đây có đặt ngai và bài vị thần. cùng với thần phả ở đình còn lưu giữ được hương ước chữ Hán viết trên lụa và một số bức chạm. Ở gian chính có cữa Vỏng chạm phượng cắp cuốn thư. Các đầu dư chạm rồng ngậm ngọc. Các đầu kẻ chạm trúc hoá lọng. Đặc biệt ở đình còn lưu giữ được nhiều đồ tế có giá trị như: bát bào, ngựa, hạc thờ, xà mầu, phù việt. Các bộ kiệu bát cống, kiệu long đình được tao tác rất đẹp.

Đình và chùa Vàng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1995.

Không gian đình làng

Bên cạnh đình là giếng đình, hiện bờ giếng đã hư hỏng chưa được tôn tạo.

(Bài viết của nhóm nghiên cứu, năm 2008)

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC