Làng Cựu

VỊ TRÍ
Làng Cựu thuộc địa giới hành chính xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
Làng Cựu xưa vốn là nơi đồng chiêm trũng, mỗi năm chỉ cấy được một vụ nên cuộc sống của người dân nơi đây thiếu thốn quanh năm. Năm 1921, một gia đình trong thôn do bất cẩn khi nấu ăn đã để xảy ra hỏa hoạn. Những ngôi nhà trong làng chủ yếu là nhà tranh tre nứa lá nên lửa liếm rất nhanh, cháy suốt từ cổng đầu làng cho tới điếm canh gần cuối làng. 2/3 nhà trong làng đã hóa tro bụi. Đói kém vì mất mùa, nên sau vụ cháy ấy, cuộc sống của người dân nơi đây lại càng trở nên khốn quẫn. Không chịu cảnh ngồi không bó gối, nhiều người đã khăn gói rời làng ra Hà Nội tìm kế sinh nhai. Và cái nghề trưng diện cho người đời là điểm khởi đầu để những người nông dân làng Cựu phất lên, trở thành những người thợ may đệ nhất Hà Thành. Hai người đầu tiên bước chân vào nghề may là anh em ông Phúc Mỹ, Phúc Hưng. Thấy làm ăn tốt, các ông bắt đầu về làng kéo mọi người đi làm cùng. Chẳng ai ngờ những đôi bàn tay chai sần bởi cuốc với cày lại có thể khéo léo tạo ra những bộ veston, bộ đầm đẹp đến thế. Họ may chủ yếu cho người Pháp và lớp người giàu ở Hà Nội.
Nghề buôn vải cũng được người làng Cựu bao thầu và khuếch trương đến mức chiếm lĩnh gần như toàn bộ thị trường may mặc ở Hà Nội, mà chủ yếu là may comple. Từ nông dân trở thành triệu phú. Giàu đến mức ai cũng có dãy cửa hiệu ở Hà thành rồi mở rộng thị trường vào tận Sài Gòn – Chợ Lớn. Giàu thì thường chơi sang, họ về làng xây biệt thự. Những biệt thự tráng lệ nguy nga với vòm cuốn, mái chảy, gỗ lim, ngói mũi… sân vườn rộng rãi đó được xây dựng trong thời kỳ 1920-1945.
Sau năm 1945, chủ nhân của những ngôi biệt thự này ly tán khắp nơi, người ở Hà Nội, người phát triển nghề may vào tận Sài Gòn – Chợ Lớn, cũng có người sang Mỹ, Pháp làm ăn. Hiện ở làng chỉ có hơn 100 hộ, với hơn 600 nhân khẩu, sinh sống bằng nghề nông nên không có tiền đầu tư chống lại sự xuống cấp của những ngôi nhà là niềm tự hào của người dân. Hơn thế, 1/3 trong số gần 100 ngôi biệt thự cổ của làng hiện bị bỏ không, thỉnh thoảng mới có người đến quét dọn, nhưng cũng có nhà mấy hộ cùng sở hữu, bán đi bán lại nhiều lần, mạnh ai người ấy làm, cải tạo theo ý riêng khiến cảnh quan, không gian kiến trúc cổ ít nhiều bị biến dạng hoặc mất đi.
Năm 1975, 2/3 dân làng chuyển đi nơi khác, vào Sài Gòn, Hà Nội ra nước ngoài . Nhiều gia đình chỉ để lại một người con để giữ đất , thờ cúng tổ tiên, còn lại cũng ra thành phố lập nghiệp. Dân gốc của làng còn ít, chủ yếu là những người nơi khác chuyển đến rồi sinh sống.
Nghề phụ:
Ở làng Cựu có một số gia đình có máy nay, để kiếm thêm thu nhập cho gia đình bằng cách nhận hàng về nhà làm từ các tiệm may ở thôn Từ Thuận. Các hộ thường nhận may gia công cá bộ phận comple hay veston hay các laoij giầy… những nghề phụ này được tận dụng những khi nông nhàn vừa là một hình thức tăng thêm thu nhập cho người dân. Thu nhập bình quan khoảng 3 triệu đồng/1 tháng . Ở giữa làng có một xưởng may lớn với hàng chục công nhân.

CẤU TRÚC LÀNG CỰU
Hình thái tổng thể
Hình thái tổng thể kiến trúc cảnh quan làng Cựu mang nét đặc trưng của làng truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện qua cấu trúc tổng thể của làng, mạng lưới giao thông, các không gian công cộng, không gian ở.
Cấu trúc tổng thể của làng bao gồm 3 không gian chính. Không gian ngoài làng – được nhận diện thông qua hệ thống đồng ruộng. Không gian vùng biên – được xác định qua cổng làng và hệ thống ao làng. Không gian trong làng – là tổng hòa của không gian ở, không gian giao thông, và không gian cộng đồng.

Cấu trúc làng Cựu – Cấu trúc điển hình của làng thuần nông đồng bằng Bắc Bộ

Cấu trúc mạng lưới giao thông làng Cựu là cấu trúc hình xương cá, đặc trưng cấu trúc làng truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đường làng chính đóng vai trò trục xương sống kết nối tất cả các không gian trong làng; các công trình công cộng truyền thống nằm tại vị trí quan trọng về mặt hình thái hình học trên đường làng chính (đình làng ở đầu làng, giếng làng giữa làng, cổng làng ở cuối làng). Cảnh quan truyền thống đường làng chính và các ngõ xóm được duy trì với các bức tường thấp hai bên, thấp thoáng nhà chính (thường là nhà một tầng) và khuôn viên sân vườn phía trước, cửa nhà không mở trực tiếp ra đường làng chính. Đặc biệt vật liệu lát đá xanh và gạch đỏ vẫn được gìn giữ tạo nên cảnh quan riêng biệt của làng.
Không gian cộng đồng truyền thống bao gồm đình làng và giếng làng. Tổ hợp “đình làng, sân đình, cây cổ thụ, ao” và “giếng làng, cây cổ thụ, không gian công cộng trước giếng” vẫn được lưu giữ. Đình làng, giếng làng ngày nay là các không gian cộng đồng đa chức năng là nơi tụ tập ưa thích của dân làng hàng ngày.

Không gian trung tâm xã, thôn
Không gian cộng đồng được bố trí dọc theo trục đường làng chính. Đình làng được xây ở đầu làng; khu vực giếng nước nằm ở giữa làng, trung tâm hình học của làng. Khu vực giếng làng cũng là nơi họp chợ của dân làng vào đầu giờ sáng.

Vị trí và hình ảnh các không gian cộng đồng làng Cựu

Đình làng

Giếng làng

Hình thái khu vực nhà ở

 

 

 

Niên đại công trình trong làng Cựu

 

Không gian ở tại làng Cựu vẫn giữ nguyên các quan niệm xây dựng nhà truyền thống. Ngôi nhà chính quay về phía Nam, được bao xung quanh bởi khuôn viên sân vườn. Nhà chính và nhà phụ tách biệt. Cửa nhà không mở trực tiếp ra đường, việc tiếp cận nhà chính từ đường thông qua khoảng không gian đệm (có thể là sân, hiên, hoặc lối đi giữa nhà)

CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC
Đình làng Cựu

Vị trí đình làng

Tổng mặt bằng

Ảnh phối cảnh

Chùa Phúc Duệ (chùa Dồi)

Vị trí chùa Phúc Duệ

Tổng mặt bằng

Ảnh phối cảnh

Chùa Phúc Duệ (chùa Dồi) nằm ở ngoài làng. Tương truyền, xưa có 5 vị thần giúp vua Hùng đánh giặc, khi bay qua cánh đồng làng Cựu, các ngài thấy cảnh trí ở đây đẹp quá, liền dừng lại và hạ xuống, các ngài hóa tại đây.
Chùa Phúc Duệ nằm trên gò đất cao, diện tích khoảng 1,7 ha, trước mặt có dòng sông Nhuệ chảy qua, hai bên tả hữu là hồ sen. Theo dân địa phương, chùa rất linh thiêng nên được đặt tên là Phúc Duệ hay Phúc Nhuệ ý nói Phật luôn mang lại may mắn cho người dân như nước dòng sông Nhuệ.
Chùa Phúc Duệ được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Đinh. Trước tiền đường, sau hậu cung. Quần thể chùa gồm: nhà tiền đường, thượng điện, nhà mẫu, nhà vong, nhà tổ đường, phía sau là nhà tổ ni.
Tiền đường có quy mô lớn nhất gồm 5 gian xây tường bao quanh, bờ nóc và bờ hồi đắp thẳng. Kiến trúc gỗ độc đáo với các trang trí hoa văn tinh tế: hoa sen, hoa cúc, nâm rượu…
Phía sau tiền đường là thượng điện, đây là công trình cổ kính nhất chùa. Nền thượng điện cao khoảng 80 cm so với mặt nền sân, có các pho tượng gỗ cổ được điêu khắc từ thời thành lập chùa.

Giếng làng

 

Cổng làng

 

Nhà cổ – Nhà cụ Phó Du – Kiến trúc Pháp cổ

Ngôi nhà được xây dựng năm 1929. Mặt tiền nhà là những nét pha trộn kiến trúc Á – Âu, cửa lá sách, rồi các cột trụ, đầu hồi… đều được đắp nổi đề tài hoa lá, tỉa cạnh rất đặc trưng của Tây Âu, nhưng trên chóp mái lại là bức phù điêu Tam tinh – chính là bộ Tam đa (phước – lộc – thọ) quen thuộc trong văn hoá Á Đông thường thấy tại các nước Việt Nam, Trung Quốc… với dòng Hán tự: tam tinh cung chiếu (ba vì sao toả chiếu).

Ảnh phối cảnh

Nhà cổ – Nhà thương nhân người Hoa – Phong cách kiến trúc Việt – Hoa – Pháp

Vị trí nhà

Ảnh phối cảnh

Không gian làng:

Không gian làng Cựu – Không gian truyền thống làng quê đồng bằng Bắc Bộ

Cổng nhà cổ
Một yếu tố quan trọng tạo nên không gian cảnh quan đường làng là sự đa dạng trong kiến trúc cổng. Từ cổng mang phong cách của kiến trúc cổ Việt nam như cổng tại nhà cụ phó Du – nhà vị quan chức trong làng, một trong những ngôi nhà cổ nhất của làng xây năm 1929 nằm ở đầu làng. Đến cổng nhà mang phong cách kiến trúc Trung Hoa (cổng phụ) nằm phía nam đường chính. Cổng ở khu vực giữa làng là sự kết hợp của các chi tiết kiến trúc Việt nam– Trung Quốc – Châu Âu.

Cổng nhà mang phong cách kiến trúc Việt Nam

Cổng nhà mang phong cách kiến trúc Trung Quốc

 

 

 

 

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC