Làng Diềm Xá

Làng Diềm là tên gọi nôm của làng Viêm Xá , làng Diềm cách thành phố Bắc Ninh chừng 6 km về phía Bắc, thuộc ranh giới giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.

Nhắc đến làng Viêm Xá (làng Diềm) thì những người chơi Quan họ, yêu Quan họ trên khắp cả nước chắc hẳn không còn lạ lẫm gì bởi đây vốn được coi là mảnh đất linh thiêng, nơi có đền thờ Vua Bà-Người có công sáng tạo và truyền dạy những làn điệu Quan họ. Tương truyền Ðức Vua Bà là công chúa con gái vua Hùng Vương tài sắc hơn người. Khi bà tới tuần cập kê, vua cha tổ chức hội tung cầu kén phò mã, song bà không ưng thuận lấy người thắng cuộc và xin được đi du xuân thưởng ngoạn. Khi vừa rời khỏi kinh thành thì có cơn phong vũ cuốn cả đoàn người giáng hạ xuống Trang Viêm ấp (làng Viêm Xá ngày nay). Thấy nơi đây sơn thủy hữu tình, bà liền lưu lại cho khai khẩn đất hoang, bờ bãi, dạy người dân cách làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm, trồng mía kéo mật… Bà còn sáng tác ra các lời ca, điệu hát và truyền dạy để động viên mọi người hăng say lao động. Những làn điệu ấy được dân gian lưu truyền, phát triển được gọi là Quan họ. Sau khi bà qua đời, dân làng nhớ ơn lập đền thờ…

Công trình tôn giáo tín ngưỡng

  • Đền Cùng – Giếng Ngọc

Theo con đường nhỏ nối từ trung tâm thành phố Bắc Ninh về đến làng Diềm, cụm di tích Đền Cùng – Giếng Ngọc nằm ngày đầu làng diềm. Cảm giác bình yên, nhẹ nhõm xâm lấn tâm trí khi bước qua cánh cổng tam quan là không gian thoáng đãng, rợp mát của những tán cây cổ thụ. Vào những ngày nóng bức, sau khi hóng mát và vào đền dâng lễ, du khách thường không quên xin nước uống trong Giếng Ngọc.

Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài thì chiếc giếng hình bán nguyệt trước cửa đền không có gì quá nổi bật. Bởi trải qua bao năm tháng, hiện giếng đã được sửa sang với thành xây kiên cố và bậc gạch lên xuống. Tuy nhiên, điều thu hút lại nằm ở làn nước trong vắt nhìn được xuống tận lớp đá ong tự nhiên sâu thẳm dưới lòng giếng.

Đền Cùng là chốn địa linh, hiển ứng thờ Mẫu Tam Phủ từ ngàn xưa. Mẫu ở đây là hóa thân của rừng núi, đất trời, sông biển. Người đã tạo ra và che chở cho sự sống muôn loài. Khí thiêng đền Cùng còn được hiển linh nơi giếng Ngọc Cá Thần.

Cổng tam quan Đền Cùng phủ rêu phong theo thời gian

  • Đình làng Diềm

“Thứ nhất là đình Đông Khang Thứ nhì đình Bảng, vẻ vang đình Diềm”. Đình Diềm là ngôi đình cổ, bề thế không chỉ có giá trị về kiến trúc nghệ thuật mà còn thể hiện nét sinh hoạt văn hóa của dân tộc. Đình Diềm được xây dựng vào thế kỷ 17 để thờ Ngũ vị Thành Hoàng (ông Trương Hống – Thánh Tam Giang; Vua bà Thủy tổ Quan họ; ông Quan Đô Thống; ông Giáp Ngọ; ông Ngũ Vị Bảo Hựu), dân làng lấy năm 1692 ( thời Hậu Lê, Vua Lê Chính Hòa năm thứ 13) là năm xây dựng đình.

Đình Diềm xưa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống của dân tộc Việt bao gồm: nhà tiền tế, đại đình, ngoài gian giữa có chạm những hình rồng, mây nét mác, mọi phần của khung nhà đều được bào trơn đóng bén, soi gờ chỉ thẳng tay. Đình Diềm xưa gồm 3 gian 2 chái khép kín, tạo thành một thể thống nhất, hài hòa. Trải qua biến cố của lịch sử, nhiều chi tiết kiến trúc độc đáo bị phá hủy, hiện tại, đình chỉ còn 1 gian 2 chái.

Đình làng cùng với hình ảnh cổng làng, ao làng, chợ làng tạo nên một quần thể làng truyền thống tuyệt đẹp.

Quang cảnh làng Diềm

  • Chùa Hưng Sơn

Chùa Hưng Sơn ngày nay

Chùa Diềm, có tên chữ là Hưng Sơn tự (chùa Hưng Sơn) ở xã Viêm Xá, huyện Vũ Giang, tỉnh Bắc Ninh là ngôi chùa lớn, vốn có một quả chuông đồng được đúc năm Phúc Thái 7 (1649) đời vua Lê Chân Tông. Chùa Hưng Sơn thôn Viêm Xá mới được xây dựng lại vào năm Bính Tuất (2006)

  • Đền thờ Vua Bà – Thủy tổ quan họ

Đền Vua Bà vốn được khởi dựng từ lâu đời, nhưng đã qua nhiều lần tôn tạo; dấu ấn kiến trúc điêu khắc cổ nhất còn để lại là đôi “sấu đá” trên thân với những cụm mây lưỡi mác mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng; lớp kiến trúc muộn là của thời Nguyễn-Trên câu đầu của tòa Tiền tế trước đây còn nguyên dòng chữ Hán: “Hoàng triều Khải Định cửu niên” (1924). Đến năm 2000, đền được tu bổ xây dựng lại hoàn toàn. Ngôi đền có kiến trúc kiểu chữ “Vương” gồm: Tiền tế, Thiêu hương và Hậu cung, bộ khung gỗ chạm khắc trang trí, với các lớp mái ngói đao cong uốn lượn duyên dáng.

  • Cổng Làng

Cổng đình làng Diềm với 4 chữ “Vãng dư hữu lợi” nghĩa là: khách đến chơi làng Diềm chỉ có lợi. Cái lợi ở đây được hiểu bao hàm cả về vật chất và tinh thần. Cổng làng Diềm là một trong số những cổng làng cổ nhất còn giữ được đến ngày nay.

Cổng đình làng Diềm với 4 chữ “Vãng dư hữu lợi” nghĩa là: khách đến chơi làng Diềm chỉ có lợi. Cái lợi ở đây được hiểu bao hàm cả về vật chất và tinh thần. Cổng làng Diềm là một trong số những cổng làng cổ nhất còn giữ được đến ngày nay.

Cảnh quan tiêu biểu

Làng Diềm tiêu biểu với cảnh quan ven đê với những thảm cỏ trải dài, những cánh đồng lúa xanh mướt với dòng sông Cầu chảy hiện hòa.

Các giá trị văn hóa phi vật thể

Hội làng Diềm (Hội đền Đức vua bà thủy tổ quan họ)Hội đền Vua Bà (tức hội làng Diềm) là lễ hội truyền thống ở làng Quan họ gốc, nơi duy nhất thờ Đức Vua Bà trong số 49 làng Quan họ của tỉnh, được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2016.

Lễ hội được tổ chức hàng năm thể hiện sự tôn kính và lòng nhớ ơn của dân làng đối với Đức Vua Bà-Thủy tổ Quan họ, người có công sáng tạo những làn điệu dân ca Quan họ. Theo truyền thống, dân làng Diềm tổ chức lấy nước ở giếng Ngọc (đền Cùng) làm lễ bao sai rồi mới tiến hành tế lễ. Hành trình rước xuất phát ở đền Vua Bà sang đình làng, đền Cùng rồi quay về đền Vua Bà.

Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, (mùng 6-2 âm lịch chính hội), với các phần: Tế lễ, dâng hương tưởng niệm Vua Bà, hát thờ, hát đối, hát canh Quan họ tại đền Vua Bà, lễ rước, rước nước, hát Quan họ trên thuyền, Quan họ hát đón bạn tại các nhà chứa…Ngoài ra, còn có các hoạt động thể thao như: Cờ tướng, cầu lông, cây đu, chọi gà, bóng bàn…

Ẩm thực: món bánh khúc đặc trưng chỉ có ở làng Diềm

Nghề truyền thống: Nấu Rượu

Thơ ca, nghệ thuật: gốc của điệu hát quan họ.

Cảm nhận chung

Chưa từng đặt chân tới làng Diềm, chưa từng nhìn hình ảnh làng Diềm qua sách báo nhưng khi xe chúng tối hướng về phía làng Diềm nhìn cảnh vật hiện ra trước mắt với ngôi đền cổ kính, những gốc cây cổ thụ roi bóng dưới mặt hồ xanh mát và linh cảm rằng chúng tôi đã đặt chân đến nơi mà mình cần. Rồi mọi thứ được hiện dần trước mắt với ngôi chùa Hưng Sơn rồi Đền thờ bà thủy tổ quan họ. Men theo ao làng là hình ảnh cổng làng núp dưới tán cây cổ thụ với đình làng tuyệt đẹp. Len lõi vào làng là những ngõ nhỏ song song cách đều với những ngôi nhà san sát. Điều quý nhất ở làng Diềm sự thân thiện, hiếu khách của người dân, từ bác nông dân, chú bảo vệ, các e nhỏ, anh bán nước đến các cụ già. Tất cả đều để lại cho chúng tôi những cảm nhận riêng và ấn tượng đẹp. Nét đẹp của một ngôi làng cổ giàu tuyền thống đã in sâu vào tâm trí của chúng tôi.

Hồng Liên

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC