Làng Nha Xá

VỊ TRÍ

Nha Xá là 1 trong 5 thôn thuộc xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Xã Mộc Nam nằm ở phía Bắc trung tâm huyện Duy Tiên có tổng diện tích đất tự nhiên là 549,89 ha với 1.246 hộ và 4.072 nhân khẩu. Vị trí địa lý cụ thể như sau:
– Phía Bắc giáp xã Mộc Bắc
– Phía Nam giáp xã Chuyên Ngoại.
– Phía Đông giáp Thành phố Hưng Yên.
– Phía Tây giáp xã Châu Giang.

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

Làng Nha Xá

Khoảng thời gian ra đời: Có từ trước thế kỷ 13 (Theo Thần tích làng Nha Xá thờ Thành hoàng Trần Khánh Dư, năm 1280 Trần Khánh Dư dẫn quân đánh giặc đã qua làng Nha Xá)
Cuối thể kỷ 13 (khoảng năm 1280) Trần Khánh Dư dẫn quân đánh giặc đã qua làng Nha Xá, ông yêu thích con người và cảnh vật vùng đất này. Sau cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên thắng lợi, Trần Khánh Dư đã về Nha Xá dựng chùa và tu hành ở đây. Ông đã truyền dạy người dân địa phương nghề ươm tơ, dệt lụa và nghề ươm cá bột. Từ đó có câu ca truyền miệng “Lụa Nha Xá, cá sông Lảnh”.
Vào thế kỷ 17-18 nghề dệt lụa Nha Xá đã phát triển mạnh, có tiếng trong và ngoài nước. Theo tài liệu của công ty Đông Ấn – Hà Lan, từ năm 1644 đã có mua tơ tằm từ làng Nha Xá.
Đến đầu thế kỷ 20 nghề dệt lụa tơ tằm phát triển cực thịnh, nghệ nhân làng nghề đã tiến hành cải tạo máy dệt mới, tang năng xuất lao động. Sản xuất phát triển, sản phẩm lụa Nha Xá đã có mặt ở nhiều nơi như Hà Nội, Sài Gòn và cả ở nước ngoài
Nhờ có nghề dệt lụa phát triển, kinh tế dân làng thịnh vượng. Làng đã xây đình thờ Trần Khánh Dư (do KTS Tạ Mỹ Duật thiết kế xây dựng) và nhiều gia đình trong làng thuê các kiến trúc sư Pháp, Việt thiết kế biệt thự.
Trước năm 1945, dân cư trong làng rất đông đúc, có đến 400-500 hộ (hiện nay chỉ có khoảng 255 hộ). Do nạn đói năm 1945, một bộ phận dân cư đã lưu tán. Đến năm 1954, nhiều giáo dân trong làng đã di cư vào miền Nam.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nghề dệt lụa bị mai một, chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục sản xuất với sản lượng nhỏ.
Hòa bình lập lại, nghề dệt dần được khôi phục. Ngày 2/9/1959, Nha Xá chính thức thành lập hợp tác xã dệt thủ công gồm 120 khung dệt.
Năm 1986, chuyển sang kinh tế thị trường, người dệt phải tự bươn chải và gặp không ít khó khăn từ tìm kiếm nguyên liệu đầu vào, trang bị máy móc, cũng như tìm thị trường tiêu thụ, nhưng dân làng vẫn cố giữ nghề.
Năm 1993, làng dệt đầu tư hơn 200 triệu đồng xây dựng lưới điện đến từng nhà. Có điện, làng dệt càng nhộn nhịp hơn, góp phần giải phóng sức lao động cơ bắp cho mọi người, tăng năng suất lên gấp đôi và mở rộng khổ vải, lụa từ 0,3-0,8 mét lên 1-1,2 mét.
Hiện nay, hợp tác xã Nha Xá có 500 xã viên, trong đó 90% hộ dân tham gia dệt, với trên 350 lao động chính và 200 máy dệt.
Làng dệt Nha Xá đang từng bước hiện đại hóa các khâu sản xuất, bỏ dần nếp sản xuất thủ công. Các gia đình trước đây làm đủ các công đoạn, nay đã chuyển sang chuyên môn hóa. Hộ dệt chỉ có dệt, hộ nhuộm thì chuyên nhuộm. Chính vì vậy mà chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản lượng lớn hơn. Nhiều mặt hàng mới ra đời như hàng đũi, tơ se, hàng lụa hoa… chất lượng, mẫu mã sản phẩm tiếp tục được nâng cao.

CẤU TRÚC LÀNG NHA XÁ

Hình thái tổng thể
Làng Nha Xá là một làng cổ hình thành từ lâu đời ít có biến động về cấu trúc không gian do dân cư ít (khoảng hơn 400 hộ năm 1945 và hiện nay còn khoảng 275 hộ dân sau hai đợt di dân vào Nam năm 1945 do nạn đói và 1954 theo lời kêu gọi của chính quyền Mỹ – Diệm với lời kêu gọi “Chúa đã vào Nam và con chiên vào theo Chúa”).
Làng Nha Xá trải dài dọc theo và nằm ở phía Nam trục đường xã ĐX03 đi Châu Giang, bị cắt ngang bởi đường xã ĐX02. Trục giao thông chính của làng chạy dọc giữa làng lên đê (đi xã Mộc Bắc và Chuyên Ngoại) hướng ra sông Hồng theo trục Đông – Tây. Cổng làng có lũy tre hai bên bờ hồ nước.

Ảnh chụp tổng thể làng Nha Xá

Tổng thể làng Nha Xá phía Bắc giáp trục đường liên xã ĐX03, làng Yên Ninh, Yên Lạc; phía Nam giáp làng Lảnh Trì; phía đông giáp đê sông Hồng; phía Tây giáp xã Châu Giang.
Địa hình làng Nha Xá dốc từ Đông sang Tây và dốc xuôi về hai bên trục đường chính dọc làng, thoát nước mặt vào hệ thống ao, mương mặt nước bao quanh làng.
Hệ thống mặt nước ngoài làng chủ yếu phân bố ở hướng Bắc theo tuyến dọc làng và hướng Đông (sông Hồng trước cổng Làng), các ao bên trong làng phân bố khá đều; Đồng ruộng nằm chủ yếu ở hướng Tây và Nam của làng.

Mặt bằng tổng thể làng Nha Xá

Chùa làng Nha Xá nằm giáp nghĩa địa ở phía Tây của làng; Đình Nha Xá nằm tại trung tâm về phía Bắc trục đường chính của làng; Nhà Thờ đạo nằm về phía Nam trục đường chính, đối xứng với đình làng; Nhà Văn hóa làng Nha Xá nằm ở góc Tây – Nam ngã tư giao trục đường chính của làng và đường liên xã ĐX02; Chợ làng Nha Xá và UBND xã cũ nằm ở phía Tây Nam của ngã ba giao trục đường liên xã ĐX02 và ĐX03; Trụ sở các cơ quan , bưu điện xã và trường THCS nằm về phía Đông Bắc của làng, bên cạnh đê sông Hồng hướng đi xã Mộc Bắc và Chuyên Ngoại.

CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC

Làng Nha Xá không có nhiều di sản kiến trúc. Tiêu biểu có 3 di tích: đình làng (giữa làng), nhà thờ (giữa làng) và chùa làng (cuối làng, đang cải tạo xây dựng mới).
Đình làng Nha Xá
Trần Khánh Dư là một vị tướng lỗi lạc thời Trần, người đã có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông và đánh dẹp Chiêm Thành. Cuối đời, ông về ở tại vùng đất được phong thuộc xã Dương Hòa, lộ Lý Nhân (Hà Nam). Có lần du ngoạn trên sông Hồng, ông thấy bãi sông đẹp, đã lên xem và hướng dẫn dân Nha Xá vớt cá hương trên sông về nuôi và trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa… Từ đó, nghề dệt lụa được người dân Nha Xá cần cù gìn giữ. Vào những năm đầu thế kỷ 20, lụa Nha Xá đã có mặt ở nhiều nơi. Năm 1931, lụa Nha Xá đã dự hội chợ ở Phnômpênh (Campuchia). Năm 1938, dự hội chợ Huế. Năm 1935, đã có 6 nhà tư sản Nha Xá có cửa hàng bán lụa ở Sài Gòn, Hồng Kông… Năm 1939, nghề dệt, nghề cá đều thịnh vượng. Làng đã xây đình thờ Trần Khánh Dư (do KTS Tạ Mỹ Duật thiết kế xây dựng) và nhiều gia đình trong làng thuê các kiến trúc sư Pháp, Việt thiết kế biệt thự.
Theo dân làng kể lại, đình làng đã được xây dựng lại nhiều lần, ngôi đình hiện nay được xây dựng vào khoảng những năm 1940, do KTS. Tạ Mỹ Duật, một trong những KTS thế hệ đầu tiên của Việt Nam, thiết kế. Theo như nhận xét của cố GS. Trần Quốc Vương, đình Nha Xá có phong cách độc nhất vô nhị tại Việt Nam.
Mô tả di tích
Đình Nha Xá được thiết kế xây dựng trên khuôn viên đất tương đối hẹp và được thiết kế xây dựng vào năm 1940 nên chỉ có đình bố cục ở trung tâm thửa đất gần về phía cổng, cận về phía sau để lại khoảng sân phía trước làm minh đường hướng về phía Đông.

Đình làng Nha Xá

Mặt bằng tổng thể Đình làng Nha Xá

Phần nhà phụ và sân khấu mới xây dựng ở phía Bắc của đình dùng làm nơi chuẩn bị cỗ, lễ cho các hoạt động lễ hội của làng và tết Trung Thu cho thiếu nhi.
Cổng đình hướng thẳng ra và cách trục đường chính ở hướng Nam 50m, cánh cổng sắt mới.

Các Ao, Giếng
Do đặc điểm vùng trũng, làng Nha Xá có hệ thống mặt nước ao hồ phân bố dày đều khắp làng, hầu như mỗi nhà đều có một ao tự đào để lấy đất đắp nền nhà chống ngập lụt, chứa nước sinh hoạt và tưới cây, nuôi trồng thủy sản.
Làng còn một giếng đất hình tròn có đường kính 15m, (lòng chảo sâu nhất ở giữa 2,4m) trước cổng đình đã được xây kè bờ. Đây là nguồn nước sinh hoạt của làng trước đây và dùng trong các việc của đình làng, lễ hội.

CÁC DI SẢN KHÁC

Sử dụng vật liệu, phương thức xây dựng truyền thống
Nha Xá là làng cổ, vị trí nằm sát đê sông Hồng, xưa kia vốn là vùng đất thấp. Người dân làm nhà cải tạo địa hình bằng cách đào, đắp đất: đào đất để tạo thành ao, số đất đào lên sẽ đắp cao để thành nền xây nhà. Hiện nay, khuôn viên các nhà trong làng Nha Xá còn giữ được rất nhiều ao.
Làng Nha Xá có rất nhiều ao, đây một phần là dấu ấn của phương thức xây dựng nhà ở truyền thống của làng bằng phương pháp đào, đắp đất: đào đất để tạo thành ao, số đất đào lên sẽ đắp cao để thành nền xây nhà. Ao là không gian mặt nước quan trọng trong sinh hoạt gia đình trước đây: Ao giúp cảnh quan nhà đẹp hơn, cải thiện vi khí hậu khu đất và tốt cho phong thủy của tổng thể khu nhà; Ao là nguồn nước quan trọng sử dụng trong sinh hoạt và nghề dệt lụa; Ao là nơi nuôi cá, ươm cá giống. Ngày nay, làng đã có nước máy sạch đến từng hộ, nhu cầu sử dụng nước ao không còn, một số gia đình đã lấp ao để xây dựng nhà mới và mở rộng xưởng sản xuất. Tuy nhiên, phần lớn ao tại làng vẫn còn được giữ lại vì người dân vẫn coi trọng vai trò của ao trong cuộc sống hiện đại.

Hệ sinh thái
Làng Nha Xá được bao bọc sung quanh là đồng ruộng và diện tích cây xanh. Một số diện tích mặt nước ven làng đang được đầu tư cải tạo thành các hồ trồng sen. Hệ sinh thái cây xanh, mặt nước quanh làng đang được cải tạo tốt hơn.

Nghề dệt lụa Nha Xá đang trong giai đoạn phát triển về cả quy mô sản xuất lẫn chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, làng nghề cũng chưa giải quyết triệt để được vấn đề ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái mặt nước và cây xanh của làng.
Nhà cổ
Hiện nay, trong làng còn lưu giữ được khoảng 10 ngôi nhà xây trong thời kỳ Pháp thuộc, do KTS người Pháp và người Việt thiết kế. Tiêu biểu có nhà của gia đình ông Phạm Khắc Tiệp, nhà bà Lê Thị Đằng … Tuy nhiên, số lượng nhà thời Pháp thuộc trong làng đang giảm sút nhanh chóng. Những năm 1980,nhà kiểu Pháp trong làng còn nhiều, thế rồi mỗi năm giảm dần. Nhà kiểu Pháp xuống cấp dần đến mức không còn đảm bảo an toàn, tiếc nhưng nhiều người đành phá xây nhà mới.

Nhà cụ Phạm Khắc Tiệp

Đến năm 2011, làng còn giữ được khoảng 20 ngôi nhà kiểu Pháp, có quá nửa số đang xuống cấp trầm trọng. Nếu không được đầu tư bảo tồn kịp thời, những công trình kiến trúc này sẽ dần biến mất.

 

 

Nhà cụ Lê Thị Hồng An (Trước khi cải tạo)

CÁC DI SẢN PHI VẬT THỂ TIÊU BIỂU
Nghề truyền thống
Làng dệt lụa Nha Xá
Làng Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam) nằm trên bờ sông Hồng nặng đỏ phù sa. Trước đây, đồng ruộng Nha Xá không nhiều lại nằm ở vào vùng trũng quanh năm bão gió, úng ngập, không có lợi thế trồng trọt. Bởi vậy, người dân Nha Xá chủ yếu trong vào hai nghề truyền thống là: ươm cá bột và ươm tơ dệt lụa.
Nghề dệt lụa Nha Xá có lịch sử lâu đời. Câu phương ngôn: “lụa Nha Xá, cá sông Lảnh” lưu truyền khắp nơi, bởi sản phẩm lụa nơi đây nổi tiếng đẹp và bền, còn cá trên sông Lảnh (khúc sông Hồng đoạn chảy qua đền Lảnh Giang, gần làng) vốn rất nhiều cá béo và ngon.
Người được dân làng tôn thờ làm Thành hoàng làng là ông tổ dạy dân dệt lụa và bắt cá hương (cá giống) Nhân Huệ Vương – Phiêu kỳ Đại tướng quân Trần Khánh Dư. Trần Khánh Dư là một vị tướng lỗi lạc thời Trần, người đã có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông và đánh dẹp Chiêm Thành. Qua ngọc phả chùa Nha Xá và tư liệu Hán Nôm ở một số di tích trong vùng, thì sau cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược thắng lợi, ông đã đưa dân từ Vân Đồn (Quảng Ninh) về khai hoang lập ấp tại thong Dưỡng Hải, xã Duy Hải, huyện Duy Tiên ngày nay, sau đó ông về thôn Nha Xá cho dựng chùa và tu hành ở đấy.
Cuối đời, ông về ở tại vùng đất được phong thuộc xã Dương Hòa, lộ Lý Nhân (Hà Nam). Có lần du ngoạn trên sông Hồng, ông thấy bãi sông đẹp, đã lên xem và hướng dẫn dân Nha Xá vớt cá hương trên sông về nuôi và trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa… Tại đền Thượng (xã Duy Hải) và chùa Nha Xá – những nơi thờ Trần Khánh Dư – hiện còn câu đối với nội dung sau:
“Khai hoang địa, huấn nông tang, thiên niên sinh nghiệp
Dưỡng tế ngư, giáo chức bạch, vạn thế điền gia”
(Nghĩa là: “Mở đất hoang, dậy cầy cấy, ngàn năm (lấy đó) làm nghề sinh sống
Nuôi cá nhỏ, khuyên dệt vải, muôn đời (cứ thế) cảnh nhà nông”)
Vào thế kỷ 17-18 nghề dệt lụa Nha Xá đã phát triển mạnh, có tiếng trong và ngoài nước. Theo tài liệu của công ty Đông Ấn – Hà Lan, từ năm 1644 đã có mua tơ tằm từ làng Nha Xá.
Nghề ươm tơ dệt lụa Nha Xá cho đến những năm đầu thế kỷ 20 vẫn chủ yếu làm bằng thủ công, sản xuất trong khuôn khổ gia đình, tự mua sắm khung dệt, nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Mặt hang dệt ở Nha Xá gồm nhiều loại như: Săm, vặn, lượt, lụa, lính, xăng tum, đũi …. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là lụa và đũi Công cụ dệt lụa ở Nha Xá lúc bấy giờ còn đơn giản và chỉ đệt được khổ vải từ 35-40cm bằng hình thức thoi lao tay. Khung dệt thường có kích thước trung bình: dài 1,8m, rộng 0,8m, cao 1,6m làm bằng gỗ xoan hoặc tre.
Do điều kiện đất đai chật hẹp, hay bị ngập úng, nên từ trước đây nghề trồng dâu nuôi tằm ở Nha Xá không phát triển. Hằng năm, người thợ Nha Xá phải mua kén tằm từ nới khác về làm nguyên liệu sản xuất.
Khi mua kén phải lựa chọn tỉ mỉ, công phu: kén được xé làm đôi, lấy tơ nõn bên trong kèo dài ra, nếu không đứt thì ươm tơ mới tốt. Thời điểm ươm tơ được chọn vào khoảng tháng 9-11 Âm lịch, khi thời tiết có nắng hanh khô, nước sông Hồng xuống, theo kinh nghiệm thì cứ 11kg kén thu được 1kg tơ.
Đũi Nha Xá cũng được dệt bằng sợi tơ, nhưng được lấy từ kén tằm già, nhộng đã lột thành bướm cắn tổ chui ra (do để kén làm giống hay bị quá lứa) và những lõi kén đã kéo hết tơ nõn. Tuy nhiên, những nghệ nhân làng Nha Xá vẫn có cách xử lý tốt khâu kéo sợi mà đũi vẫn bền, đẹp, được nhiều người ưa dùng.
Vì làm thủ công, công cụ thô sơ, sản xuất quy mô nhỏ, nên trước một người thợ lành nghề thường chỉ dệt được 20 vuông lụa một ngày (1 vuông là chiều dài bằng với chiều ngang của khổ tấm lụa, khổ tấm lụa phụ thuộc vào từng khung dệt), thợ bình thường chỉ dệt được 10 vuông lụa mỗi ngày. Cả làng có khoảng 100 khung dệt (máy con cò), nên sản phẩm lụa Nha Xá chỉ bán tại làng hoặc các vùng lân cận, ít trao đổi rộng trên thị trường.
Khoảng những năm 1930 ông Lê Mộng Mơ sau khi được sang Pháp tham quan về đã thuê thợ từ Hà Đông về dựng khung dệt mới, nâng khổ rộng vải lên 80cm, nhưng vẫn bằng hình thức chân dận, tay guột. Sản xuất phát triển, sản phẩm lụa Nha Xá đã có mặt ở nhiều nơi như Hà Nội, Sài Gòn. Năm 1931, lụa Nha Xá đã dự hội chợ ở Phnômpênh (Campuchia). Năm 1938, dự hội chợ Huế. Năm 1935, đã có 6 nhà tư sản Nha Xá có cửa hàng bán lụa ở Sài Gòn, Hồng Kông… Cùng việc nhập nguyên liệu tơ tằm trong nước, Nha Xá còn nhập cả sợi tơ từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) và tơ Rê On (Nhật Bản). Năm 1939, nghề dệt, nghề cá đều thịnh vượng. Đây cũng là thời kỳ mà người dân Nha Xá được tiếp xúc với giới buôn bán để mở rộng tầm mắt. Đặc biệt sau này, nhà tư sản Bạch Thái Bưởi đã đánh giá nghề lụa Nha Xá có cơ hội phát triển, nên đã tìm cách tiếp cận với người dân nơi đây, cho tàu cập mạn đê hữu sông Hồng lấy hàng sang phương Tây.

Khung dệt cải tiến đầu thế kỷ 20, tại nhà trưng bày làng Nha Xá
(Nguồn: nhóm tác giả T9/2018)

Nhờ có nghề dệt lụa phát triển, kinh tế dân làng thịnh vượng. Làng đã xây đình thờ Trần Khánh Dư (do KTS Tạ Mỹ Duật thiết kế xây dựng) và nhiều gia đình trong làng thuê các kiến trúc sư Pháp, Việt thiết kế biệt thự. Trải qua sự tàn phá của chiến tranh và thời gian, đến nay làng vẫn còn một số ngôi biệt thự đẹp.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nghề dệt lụa bị mai một, chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục sản xuất với sản lượng nhỏ. Hòa bình lập lại, nghề dệt dần được khôi phục. Ngày 2/9/1959, Nha Xá chính thức thành lập hợp tác xã dệt thủ công gồm 120 khung dệt. Hợp tác xã làm gia công cho Nhà nước, cả làng ăn gạo Nhà nước. Năm 1986, chuyển sang kinh tế thị trường, người dệt phải tự bươn chải và gặp không ít khó khăn từ tìm kiếm nguyên liệu đầu vào, trang bị máy móc, cũng như tìm thị trường tiêu thụ, nhưng dân làng vẫn cố giữ nghề.
Trải qua bao thời gian thăng trầm, đến nay làng dệt Nha Xá vẫn duy trì làng nghề để ngày càng làm đẹp cho đời, làm ấm lòng người trong và ngoài nước. Hiện nay làng dệt Nha Xá có 255 hộ, gần 800 nhân khẩu với khianrg 100 máy dệt.
Mỗi hộ làm nghề dệt thường có khoảng 2 – 3 máy dệt, có nhà nhiều nhất là 8 chiếc. Nguyên liệu tơ chủ yếu được lấy từ thôn Từ Đài, xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên và nhập từ tỉnh Lâm Đồng.
Khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, khung dệt được chia về từng gia đình. Năm 1993, làng dệt đầu tư hơn 200 triệu đồng xây dựng lưới điện đến từng nhà. Có điện, làng dệt càng nhộn nhịp hơn, góp phần giải phóng sức lao động cơ bắp cho mọi người, tăng năng suất lên gấp đôi và mở rộng khổ vải, lụa từ 0,3-0,8 mét lên 1-1,2 mét.
Hiện nay, hợp tác xã Nha Xá có 500 xã viên, trong đó 90% hộ dân tham gia dệt, với trên 350 lao động chính và 200 máy dệt. Có những gia đình có 2 – 3 máy dệt trong nhà, những hộ này thường khép kín các công đoạn từ thu mua nguyên liệu đến bán thành phẩm. Những xưởng lớn có hàng chục máy dệt, những máy dệt lớn chuyên dệt những sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho các thị trường cao cấp trong và ngoài nước là Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và xuất khẩu sang Lào, Thái Lan…
Làng dệt Nha Xá đang từng bước hiện đại hóa các khâu sản xuất, bỏ dần nếp sản xuất thủ công. Các gia đình trước đây làm đủ các công đoạn, nay đã chuyển sang chuyên môn hóa. Hộ dệt chỉ có dệt, hộ nhuộm thì chuyên nhuộm. Chính vì vậy mà chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản lượng lớn hơn. Nhiều mặt hàng mới ra đời như hàng đũi, tơ se, hàng lụa hoa, hàng lanh…, chất lượng, mẫu mã sản phẩm tiếp tục được nâng cao. Từ Nha Xá, nghề dệt đã lan rộng sang nhiều vùng xung quanh như Lảnh Trì, Chuyên Ngoại, Hòa Mạc, Đồng Văn… và tạo việc làm cho hàng trăm gia đình.

Nghề ươm cá bột (cá hương)
Làng Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam) nằm trên bờ sông Hồng nặng đỏ phù sa. Trước đây, đồng ruộng Nha Xá không nhiều lại nằm ở vào vùng trũng quanh năm bão gió, úng ngập, không có lợi thế trồng trọt. Bởi vậy, người dân Nha Xá chủ yếu trong vào hai nghề truyền thống là: ươm cá bột và ươm tơ dệt lụa.
Câu phương ngôn: “lụa Nha Xá, cá sông Lảnh” lưu truyền khắp nơi, bởi sản phẩm lụa nơi đây nổi tiếng đẹp và bền, còn cá trên sông Lảnh (khúc sông Hồng đoạn chảy qua đền Lảnh Giang, gần làng) vốn rất nhiều cá béo và ngon.
Người được dân làng tôn thờ làm Thành hoàng làng là ông tổ dạy dân dệt lụa và bắt cá hương (cá giống) Nhân Huệ Vương – Phiêu kỳ Đại tướng quân Trần Khánh Dư. Cuối đời, ông về ở tại vùng đất được phong thuộc xã Dương Hòa, lộ Lý Nhân (Hà Nam). Có lần du ngoạn trên sông Hồng, ông thấy bãi sông đẹp, đã lên xem và hướng dẫn dân Nha Xá vớt cá hương trên sông về nuôi và trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa… Tại đền Thượng (xã Duy Hải) và chùa Nha Xá – những nơi thờ Trần Khánh Dư – hiện còn câu đối với nội dung sau:
“Khai hoang địa, huấn nông tang, thiên niên sinh nghiệp
Dưỡng tế ngư, giáo chức bạch, vạn thế điền gia”
(Nghĩa là: “Mở đất hoang, dậy cầy cấy, ngàn năm (lấy đó) làm nghề sinh sống
Nuôi cá nhỏ, khuyên dệt vải, muôn đời (cứ thế) cảnh nhà nông”)
Đến đầu thế kỷ 20, nguồn cá giống từ Nha Xá được ngươi dân trong làng đem bán khắp vùng, lên cả các vùng miền núi phía Bắc.
Tuy nhiên, hiện nay nghề này đã mai một hoàn toàn. Trong làng không còn hộ ươm nuôi cá giống tự nhiên trên sông Hồng.

Lễ hội
Lễ hội truyền thống: Hội làng vào ngày 24/1 âm lịch, tưởng nhớ Thành hoàng làng Trần Khánh Dư
Hội làng là hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt tập thể quan trọng nhất của làng trong năm. Hội làng có sự tham gia đông đủ của dân làng, lãnh đạo địa phương, các họ tộc, các nghệ nhân làng nghề …. Hội làng bao gồm phần lễ và phần hội được tiến hành tập trung tại khu vực đình làng. Phần lễ tưởng niệm Thành hoàng làng đức Trần Khánh Dư. Phần hội thường diễn ra vào buổi tổi, bao gồm nhiều tiết mục văn nghệ của dân làng. Hội làng hiện nay thu hút được người gốc dân làng từ mọi miền đất nước và một số người dân từ các xã lân cận đến tham dự. Tuy nhiên, hội làng chưa thu hút được khách du lịch, và cũng chưa có các yếu tố tổ chức dịch vụ du lịch (thông tin, đón tiếp, phục vụ ….).

Ẩm thực, sản vật đặc thù
Món ăn đặc trưng ở đây là món cháo cái (một kiểu cháo se). Gạo một phần nếp ba phần tẻ ngâm từ tối hôm trước đến sáng hôm sau vớt để ráo nước đem giã rồi dùng giây bột lọc lấy phần bột mịn để se (làm cái) phần bột to thì cho vào nấu nhuyễn với nước dùng làm từ xương, thịt băm… phần bột mịn được hòa với ít nước cho mềm và sùng tay se nhỏ bằng đầu đũa rồi thả vào nồi cháo đã chín nhừ, đợi phần cái se cho vào chín thì múc ra bát rắc hành hoa thì là lên mặt. Xưa hay dùng bát chiết yêu để ăn cháo do có miệng rộng nên nhanh nguội, dễ ăn.
Ngoài ra làng Nha Xá còn có món chả cá và nấu thuôn cũng rất đặc biệt trong cách chế biến.
Nghệ thuật biểu diễn
Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Thai, 80 tuổi (2018) cán bộ về hưu kể lại thì xưa làng có diễn kịch “Ngô khoai tranh đấu”, hát dân ca, chèo, kịch nói tại sân đình. Sân khấu được bắc trên mặt ao bằng tre lứa. Nay xã đã lấp ao này và xây sân khấu bằng gạch trên nền.
Các phong tục, tập quán tiêu biểu
Dân làng Nha Xá tổ chức lễ hội vào ngày 24 tháng Giêng hàng năm để tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng Trần Khánh Dư với các hoạt động lễ hội phong phú và đặc trưng thì hàng năm vào tết Trung Thu dân làng cũng tổ chức cho các cháu rất linh đình, tập dượt trước khi biểu diễn đến cả tháng.

 

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC