Làng Phú Gia

Phú Thượng là một phường thuộc quận Tây Hồ Hà Nội. Phường Phú Thượng nằm ở phía tây bắc của Hồ Tây. Phía bắc là Sông Hồng, phía Nam là khu đô thị Nam Thăng Long, phía tây giáp xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm.

Trước khi thành lập quận Tây Hồ (1995), phường Phú Thương là xã Phú Thượng, được chia thành ba làng là Thượng Thụy, Phú Gia Và Phú Xá (có tên nôm lần lượt là làng Bạc, làng Gạ và làng Sù).

Không chỉ nổi tiếng về đào và quất, Phú Thượng còn được những người “bình dân” Hà thành biết đến với nghề nấu xôi. Đã từ lâu, cái tên kẻ Gạ (tên cũ của Phú Thượng) trở nên thân quen trong suy nghĩ của rất nhiều người dân thủ đô.

Nhóm nghiên cứu giới thiệu phần 1 của việc nghiên cứu các làng thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ về làng Phú Gia

Làng Phú Gia, tên Nôm là làng Gạ, cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn là một xã thuộc tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây (từ 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, đầu thế kỷ XX trực thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông). Năm 1956, Phú Gia thuộc xã Phú Thượng thuộc quận V, năm 1961 thuộc huyện Từ Liêm, từ tháng 9 – 1997, xã Phú Thượng trở thành một phường của quận Tây Hồ.

Vị trí làng Phú Gia

Theo sử sách, làng Phú Gia (Phú Thượng, Tây Hồ) từ lâu đã suy tôn Trần Khai Nguyên, một tướng thời Hùng Vương thứ 6 có công đánh giặc Ân giữ nước, làm Thành Hoàng làng. Tương truyền ngài còn có công trị nạn hồng thuỷ, đem lại bình yên, hạnh phúc cho dân lành. Theo lệ hàng năm vào mồng 9 – 10 tháng giêng âm lịch, dân làng Phú Gia lại mở hội để tưởng nhớ tới ngài.

Mặt bằng tổng thể Đình –Chùa- Ao làng làng Phú Gia

Mặt bằng tổng thể Đình –Chùa- Ao làng làng Phú Gia

1.Ao Làng:

Ao làng nằm ngay trong quần thể di tích đình chùa của làng. Nằm ở trung tâm làng, bên cạnh đình làng và chùa Bà Già. Giữa ao nổi lên hòn đảo nhỏ được gọi là gò con quy miệng ngậm ngọc

Ao làng trước đây có hình tròn nhưng giờ đây hình dáng bị biến dổi nhiều do người dân lấn chiếm, lấp đất để sử dụng vào nhiều mục đích. Theo những người dân xung quanh thì diện tích bị mất khoảng 1/3 so với trước kia.

Hiện nay ao làng gần như bỏ hoang, hai bên bờ ao cây cỏ dại mọc tự nhiên, dưới mặt ao thì chỉ có bèo mọc xanh tốt. Chất lượng nước ngày càng bị ô nhiễm do nước thải và rác thải của người dân. Chỗ sâu nhất của ao có thể lên đến 4m và kích thước khoảng 60x40m.    

Không gian cảnh quan ao làng

Bên cạnh ao làng, nằm trong quần thể di tích không thể không nhắc đến ao đình. Ao đình nằm đối diện với đình làng, bên cạnh đường làng. Hai bên bờ ao được xây dựng kiên cố bằng gạch và vữa. Ao đình không để tự nhiên mà được người dân chăm sóc kỹ lưỡng khi trồng sen đã làm nổi bật không gian trung tâm làng. Không gian xung quanh ao đình là khá rộng và thoáng mát thích hợp cho người dân tới đây nghỉ ngơi vui chơi.

khonggianaolangphuthuong1 khonggianaolangphuthuong2

 Không gian ao đình

2.Chùa Bà Già:

Chùa được tu bổ, tôn tạo năm 2007-2008.

Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Chùa Bà Già có một lai lịch khá cổ. Nguyên, Phú Gia (tên nôm là làng Gạ) là nơi các vua nhà Trần định cư. Một bộ phận người Chăm được đưa từ phía nam ra đã dựng một ngôi chùa mà sử Toàn thư đã phiên âm là Đa-da-li. Thái úy Trần Nhật Duật (1254-1330) thường tới đây đàm đạo về Phật giáo với vị sư người Chăm trụ trì. Có thể cái tên Bà Già là từ Đa-da-li mà ra. Nay trong chùa còn bức hoành phi cổ khắc ba chữ “Bà Già tự”.

3.Đình Phú Gia:

Trong đình, sự bài trí của đồ thờ cùng hệ thống tượng theo trục hệ tương đối chặt chẽ và có sự hài hòa về cấu trúc không gian, sự ổn định về số lượng.

Trên vị trí cao nhất trong gian thờ, tượng thành hoàng làng được coi là trung tâm của ngôi đình, đồ thờ bài trí có xu hướng tiến về trung tâm theo trục dọc, các linh thú trong tư thế đối diện nhau. Tượng được tạo dưới dạng khối tròn có độ cao là 1m56. tượng có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Ngoài ra trong đình còn nhiều đồ thờ có giá trị như: chiếc bài vị có chiều cao 1m được chia làm ba phần (trán, thân, đế), đôi hạc gỗ đứng trên lưng rùa thế kỷ XVIII, có chiều cao tới 2m, Đôi phượng gỗ có kích thước 197cm – 90cm, được chạm khắc tỉ mỉ theo kiểu chạm lộng có phong cách mỹ thuật giữa thế kỷ XVII, đôi lân gỗ và đôi phỗng đá ở hai bên cửa của đình.

Hiện nay ngoài chức năng chính là thờ thành hoàng làng, một phần đình Phú Gia được sử dụng làm trụ sở của thôn làm nơi hội họp, gặp mặt khi dân làng có việc trong đại.

4.Cây cổ thụ:

Ngay ở giữa trung tâm làng có hai cây đa cổ thụ mọc bên cạnh đường đi và nằm đối xứng với nhau ao đình, góp phần làm cho không gian xung quanh vừa đẹp, mát mẻ vừa cổ kính. Ngay dưới gốc 2 cây đa cổ thụ đều có miếu thờ.

Hiện nay người dân tận dụng không gian mát mẻ dưới gốc cây cổ thụ để kinh doanh buôn bán.

5.Cổng nhà – tường rào:

congnhatuongrao2 congnhatuongrao1
congnhathuongthuy12 congnhatuongrao3

6.Những di tích khác:

Di tích nhà bà Hai Vẽ

Phú Gia là làng  sớm có truyền thống cách mạng. Từ năm 1941, nhà bà Hai Vẽ là cơ sở hoạt động của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và gần 20 ủy viên Trung ương Đảng. Từ giữa năm 1942, Phú Gia là một điểm trong An toàn khu của Trung ương, là nơi đặt cơ quan in báo Cờ giải phóng, nơi đồng chí Trường Chinh khởi thảo ‘’Bản Đề cương văn hóa Việt Nam’. Tám gia đình có công nuôi giấu, bảo vệ cán bộ cách mạng đã được tặng ‘’Bằng Có công với nước’’. Phú Gia có vinh dự lớn là ngày 24 – 8 – 1945 được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về ở (tại nhà ông Công Ngọc Kha) trước khi Người vào nội thành lo tính những công việc lớn của đất nước trong những ngày đầu Cách mạng thành công.

Trong làng, còn có ngôi nhà khá cổ nằm trong khuôn viên của trạm y tế. ngôi nhà 5 gian với những nét kiến trúc khá độc đáo nay bị bỏ hoang và đang xuống cấp. Lịch  sử của ngôi nhà thì có nhiều giả thiết khác nhau, có người bảo đây là nơi Bác Hồ đã từng sống.

Mặt trước và sau của ngôi nhà

Những nét chạm khắc tinh xảo

                                                            (Bài viết của nhóm nghiên cứu, năm 2008)

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC