Làng Sủi

Chung linh đất Sủi ai bì

Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh

(Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự)

Làng Phú Thị tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm ( Xã Phú Thị gồm 5 làng: làng Phú Thị, Đại Bản, Hàn Lạc, To Khê, Trân Tảo).

Theo các nhà nghiên cứu thì “Sủi” có gốc từ âm Việt cổ “S lủi”, qua phiên âm tiếng Hán là Thổ Lỗi, sau đó đổi thành Siêu Loại. Thế kỷ XVI- XVII, văn bia trong chùa ghi tên làng là Phú Thị, từ đó tên gọi này được dùng cho đến nay. Làng Sủi là một làng cổ trong địa bàn cư trú của người Việt cổ xưa thời Hùng Vương. Xưa thuộc Kinh Bắc, cách trung tâm Hà Nội chừng 15 km. Làng ở vào địa thế quý, đẹp, mảnh đất được ca ngợi là “Đất linh sinh nhân kiệt”.

Vị trí làng Sủi

Làng Phú Thị là một làng khoa bảng. Ngày nay nói tới làng Phú Thị là mọi người nghĩ ngay đó là quê hương của bậc đại nho chọc trời khuấy nước: Chu Thần Cao Bá Quát. Song Phú Thị không chỉ có Cao Bá Quát mà còn có một bề dày văn hóa đáng nể. Trong hai thế kỷ XVII, XVIII làng này trước sau có trên ba trăm người đỗ từ tú tài đến tiến sĩ. Riêng chỉ trong khoảng 1735 – 1745, Phú Thị có “tứ Thượng thư đồng triều” tức là cùng lúc có 4 người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc, Trịnh Bá Tường). Làng này lại từng có gia đình ba đời nối nhau đỗ tiến sĩ: Nguyễn Huy Nhuận (bố), Huy Dẫn (con), Huy Cận (cháu). Có khoa thi hai chàng trai làng Phú Thị cùng đỗ tiến sĩ như Trịnh Bá Tường và Nguyễn Huy Mãn (khoa 1721), hay Nguyễn Huy Thuật và Nguyễn Đình Nhất (khoa 1733). Còn cử nhân tú tài thì nhan nhản. Câu ngạn ngữ “Nhất môn tam tiến sĩ, đồng triều tứ thượng thư” và câu ca trong Kinh Bắc phong thổ diễn quốc sự “Chung linh đất Sủi ai bì, Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh” xuất xứ từ đây.

Phú Thị còn là làng văn học. Ngoài “văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán” ra, có Cao Bá Nhạ, cháu gọi ông Quát là chú ruột. Sau vụ khởi nghĩa Mỹ Lương, ông Nhạ cũng bị triều đình bắt giam. Trong ngục ông đã viết bản Trần tình văn bằng chữ Hán và Tự tình khúc bằng chữ nôm theo thể thơ song thất lục bát. Khúc Tự tình này là một áng thơ quốc âm tuyệt tác, nhạc vần tinh diệu.
Ngoài ra, trước chú cháu nhà họ Cao, làng Phú Thị còn có Nguyễn Huy Lượng (? – 1808) tác giả nhiều thơ văn về đề tài Thăng Long, đặc biệt với bài phú Tụng Tây Hồ tuyệt vời.

Phú Thị không chỉ là một làng khoa bảng, một làng văn chương, mà còn là một dải đất đã đi vào sử sách từ nghìn năm trước đây. Thế kỷ thứ X Vua Đinh Bộ Lĩnh đã cho một sứ quân đóng đại bản doanh ở đây để trấn giữ vùng yết hầu của con đường nối thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) với vùng Luy Lâu (Dâu) và Lục Đầu Giang. Đó là tướng Đào Liên Hoa sau trở thành thành hoàng của làng Sủi.

Nhưng có lẽ nhiều người biết đến vùng đất này lại bởi một lý do khác vì đây là nơi khởi đầu của cuộc hôn nhân đẹp giữa vua Lý Thánh Tông và một cô gái làng, sau này trở thành nguyên phi rồi hoàng thái hậu Ỷ Lan (thế kỷ XII).

Trong các công trình di tích ở làng Sủi thì nổi tiếng nhất là cụm di tích đình – đền – chùa độc đáo và càng tự hào về những tên tuổi vẻ vang gắn với cụm di tích ấy.

Mặt bằng tổng thể đình -chùa- đền làng Sủi

Mặt bằng tổng thể đình – chùa – đền làng Sủi

1.Đình làng:

Đình làng Sủi thờ Thần Hoàng làng là Tây Vị Đại Vương Đào Liên Hoa tướng quân – người có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, dựng nên nghiệp lớn. Tương truyền, trang Thổ Lỗi là nơi đóng quân của Ngài, chắc không ít trai tráng trong làng đã theo dưới cờ của Ngài lập công với nước.

Di tích đình – đền làng Sủi

2.Chùa Sủi:

Tên gốc là Đại Dương Tự, 3 chữ còn ghi trên nóc Tam bảo và trên bức hoành phi giữa Tam bảo. Chùa còn có tên Sùng Phúc Tự. Theo các tài liệu của viện sử học lưu truyền thì chùa được xây dựng từ thời kỳ phật giáo du nhập vào nước ta.

Chùa được xây dựng theo hướng có hình chim Chu tước, có đường thiên lý thông xuống phía nam. Phía sau có hình chim Huyền Vũ, bên trái có hình rồng xanh trùng trùng hướng về, bên phải có hình hổ cuồn cuộn chầu tới.

Chùa được xây dựng theo hình chữ Đinh gồm 7 gian tiền đường và 3 gian hậu cung và 2 dãy hành lang( mỗi bên 7 gian), đầu 2 hành lang giáp với tiền đường là 2 lầu 8 tám treo chuông đồng và khánh đá.

Chùa có rất nhiều tượng cổ có giá trị thẩm mỹ cao tiêu biểu cho nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam xa xưa đến thời Lê, Nguyễn.

Thời nhà Lý, bà Ỷ Lan- Nguyên Phi triều vua Lý Thánh Tông đã vè quê làm lễ cầu tự tại chùa Đại Dương và sinh được Thái tử Kiền Đức tức vua Lý Nhân Tông, do đó bà đã cho xây dựng lại ngôi chùa này gọi là Sùng Phúc Tự, hoàn thành năm 1115( theo Đại Việt sử lược).

Từ lâu chùa đã nổi tiếng là ngôi chùa đẹp. Năm 1989 chùa đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá. Khu nhà tổ, nhà cúng hậu trứoc kia cũng rất đẹp, bị huỷ hoại do chiến tranh phải dỡ bỏ hoàn toàn nay từng bước được khôi phục và tôn tạo.

Không gian bên trong chùa

3.Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan:

Phú Thị còn là quê của Ỷ Lan phu nhân, một phụ nữ nổi tiếng thời Lý. Bà tên thật là Lê Thị Khiết, có tài chính sự. Thái hậu Ỷ Lan là một nhà văn hóa lớn, thông hiểu tam giáo nhưng sùng đạo Phật. Bà cho xây dựng nhiều chùa trên đất Bắc, tạc nhiều pho tượng có giá trị thẩm mỹ cao. Là nhà chính trị, hai lần nhiếp chính thay chồng và con, bà đã giữ nghiêm được kỷ cương phép nước, trị bọn quan lại tham nhũng dù là quốc thích vương tôn. Chính bà là người chỉ huy tối cao cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076-1007 mà Lý Thường Kiệt là vị thống lĩnh quân đội đại tài.

Tới thế kỷ XII làng Sủi mới nổi danh được cả nước biết tiếng vì nơi đây là nơi khởi đầu cuộc hôn nhân đẹp giữa vua Lý Thánh Tông và cô gái làng, sau trở thành Nguyên phi rồi Hoàng thái hậu: Ỷ Lan. Cuộc đời Ỷ Lan có nhiều chi tiết giống với nàng Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám. Dân làng cho tới nay cũng vẫn có tục kiêng tên, gọi tấm là đớn và cám là bổi.

4.Cây cổ thụ:

Cây đa trước sân đình có tuổi thọ khoảng 500- 700 năm.

5.Giếng cổ:

Sân đền có cái giếng cổ, bà Ỷ Lan về cầu tự tắm nước giếng này được dân gian lưu truyền đồng nhất với cô Tấm – nhân vật cổ tích thần kỳ trong truyện Tấm – Cám. Chính vì vậy mà giếng được bảo vệ rất cẩn thận. Giếng có miệng giếng hình tròn kích thước khoảng 1.5 m.

                                                        (Bài viết của nhóm nghiên cứu, năm 2008)

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC