Làng Thích Chung

GIỚI THIỆU CHUNG

Vị trí
Làng Thích Chung tên theo Hán tự để lại là Thích Trung vì là làng ở giữa (trung) và lớn nhất trong các làng của tổng Bá Hạ xưa, nay là xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Các thôn kề bên như Văn Giáo (phía Đông), Bá Thiện (phía Đông Bắc), Quang Vinh (ở phía Tây Bắc). Phía Nam giáp sông Văn Giáo và đường Nguyễn Tất Thành, Phía Tây Nam giáp tỉnh lộ TL302B.
– Phía Đông Bắc giáp thôn Bá Thiện;
– Phía Nam giáp sông Văn Giáo và đường Nguyễn Tất Thành;
– Phía Đông giáp thôn Văn Giáo;
– Phía Tây Bắc giáp thôn Quang Vinh;
– Phía Tây Nam giáp tỉnh lộ TL302B.

Lịch sử phát triển
Bá Hiến là một trong 10 xã của huyện Bình Xuyên – một huyện giáp danh được coi là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, vùng đất “bán sơn địa” với địa hình đồi gò thấp có lịch sử/văn hoá lâu đời.
Xã Bá Hiến được biết tới là xã thuần nông, với các thôn xóm trù phú và mật độ dân cư đông đúc cư trú trên những gò đất cao ráo được hình thành từ hậu kỳ đá cũ cách ngày nay trên dưới 20.000 năm. Đâu đó, trong mỗi phong tục tập quán của đời sống thường nhật nơi đây ta vẫn cảm nhận truyền thống lịch sử lâu đời ấy: thấp thoáng một mái đình, một phế tích nền chùa cổ, cây đa, bến (giếng) nước… Đặc biệt nơi đây có cả hệ thống giếng cổ xây dựng từ thời Lê sơ, cách ngày nay hơn 500 năm nằm rải rác ở các thôn trong xã.
Làng Thích Chung (Thích Trung) là một làng cổ được xây dựng trên nền đất có địa tầng đá ong ở độ sâu một mét so với mặt đất tự nhiên. Khai thác đá ong khá thuận lợi nên cả làng xưa kia được xây dựng bằng đá ong, từ nhà cửa đến tường rào…
Các hộ gia đình đều tự đào giếng để lấy nước sinh hoạt. Giếng ở đây không sâu, cốt mặt nước sâu khoảng 1,5m trong khi đáy giếng sâu khoảng 4m đến 5m.
Địa tầng nơi đây gồm đất thịt tự nhiên khoảng 1m tiếp đến khoảng 1,5m đất đá ong tiếp đến 1,5m sỏi cuội và đến tầng đất sét… Giếng ở đây thường đào đến tầng sỏi cuội là nước trong.
Lịch sử làng Thích Chung: (theo lời kể của ông Dương Đình Nghê, cán bộ văn hóa xã đã nghỉ hưu, là người am hiểu tường tận về làng và tổng Bá Hiến xưa, đọc được các văn tự Hán cổ viết trên các bia đá của làng).
Làng Thích Chung còn có tên gọi là làng giữa, làng ở đây thuộc tổng Bá Hạ, gồm 7 làng, làng Thích Chung là làng đông dân cư nhất nên gọi là làng anh cả của xã Bá Hạ này, đông dân cư nhất, nhiều người làm quan chức, làm chức sắc nhất, Tránh tổng lý trưởng cũng nằm ở làng này, cho nên gọi là làng anh cả của 7 thôn gồm Văn Giáo, Thích Chung, Bá Hương, Thiện Chi, Phù Thượng, Phù Hạ và làng Tín Nữ, sau đó làng Tín Nữ một năm bị nạn của đời triều Lê bị chết hết cả 1 làng, không còn ai nữa nên chỉ còn 6 thôn. Sau này làng Phù Thượng là làng Phù Hạ sáp nhập lại với nhau gọi là làng Quang Vinh. Như vậy làng Bá Hạ ở đây hiện nay còn 5 thôn. 5 thôn dân cư phần lớn là họ Dương, người ta mang rất nhiều họ như họ Trần, là họ đến đây nhưng phần lớn là họ Dương. Theo thống kê thì làng Bá Hạ này khoảng 1400 người họ Dương với 5000 khẩu. Về nguồn gốc một làng Việt cổ lâu đời nhất người ta ngụ cư ở đây vào khoảng đời vua Hùng, bời vì năm 1036 bắt đầu cho xây dựng Đình Cả hình chữ quốc bốn bề đâu cũng là gian giữa. Sau đó dân Thích Chung vẫn phát triển đồng đều, đặc thù của nông dân Thích Chung chủ yếu là thuần nông lao động chất phác, thật thà, thẳng thắn, có gì hơi chân chất, có gì thì nói ngay thẳng chứ không giữ ý gì cả, nhưng khi có việc vẫn đến với nhau, giúp đỡ nhau tận tình.
Gọi là làng giữa vì ở đây người ta lấy 1 cái chữ của làng để lấy tên Nôm (tên chữ): làng giữa có 2 chữ Thích Trung (Trung là ở giữa) lấy tên Trung thì không được, không ai gọi là làng Trung và cũng không ai gọi là làng Thích cả. Nên lấy nghĩa của chữ Trung là giữa để gọi là làng Giữa. Gốc tên là làng Thích Trung nhưng bây giờ bị viết sai thành làng Thích Chung (theo lời kể của ông Dương Đình Nghê).

CẤU TRÚC LÀNG THÍCH CHUNG

Làng Thích Chung là một làng cổ lớn nhất và ở giữa Tổng Bá Hạ nên có cấu trúc hoàn chỉnh và ổn định nhất trong xã Bá Hiến hiện nay.
Về thuật ngữ người dân gọi chung khu vực cư trú của làng Thích Chung có ranh giới làng truyền thống không thay đổi nhiều, tuy có phần đất chồng lấn, xen cài với các thôn kề bên như Văn Giáo (phía Đông), Bá Thiện (phía Đông Bắc), Quang Vinh (ở phía Tây Bắc). Phía Nam giáp sông Văn Giáo và đường Nguyễn Tất Thành, Phía Tây Nam giáp tỉnh lộ TL302B.
Nhìn tổng thể làng Thích Chung có dạng cấu trúc phân nhánh cành cây, có một trục đường chính chạy từ Tây Bắc sang Đông Nam và một tuyến chạy từ Bắc xuống Tây Nam tạo thành ngã tư ở khu vực giữa làng, nơi có chợ dân sinh hàng ngày. Từ trục đường chính của xã phân chia thành các thôn và xóm. Các trục chính thôn nhỏ và ngắn, các đường xóm ít nối trực tiếp với nhau, hầu hết qua trục chính của làng.
Lối vào chính của xã từ phía Tây, đường tỉnh lộ TL302B. Đây cũng là lối vào chính lịch sử của làng.
Địa hình dạng mui rùa, làng nằm trên các gò đất cao hơn đồng ruộng xung quanh. Phía Đông và Tây của làng được bao bọc bởi mặt nước ao hồ, phía Đông có sông Văn Giáo. Các ao nhỏ chạy liên tục bám vào đất ở. Trên trục đường chính của làng nối miếu Đông bên Giếng Đông với Miếu Tây bên giếng Tây là một ao tròn như viên ngọc của làng.
Đồng ruộng nằm chủ yếu ở phía Tây Nam, Đông Nam và Đông Bắc của làng.

CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC

Chùa Giao Sam

Ngôi chùa làng Thích Chung lại gây ấn tượng đặc biệt với tam quan bằng đá xanh dựng vào năm Bảo Thái thứ 3 (1722) hiếm thấy. Đá màu xanh xám, tròn, cột cao 2,75m với những hoạ tiết hoa văn trang trí hoặc để trơn. Tam quan có mặt bằng hình gần chữ nhật tạo thành hai chái hai bên với khẩu độ các bước gian 2,3m và 1,7m (ảnh).
Trong chùa cũng còn lưu giữ cây hương nhỏ được làm từ đá sa thạch màu nâu xám, dựng năm Vĩnh Thịnh thứ tám (1712). Nội dung ghi trên cây hương cho biết đến ý nghĩa của việc dựng cây hương trong khuôn viên chùa, với sự đóng góp công sức của bà con trong làng.

 

Chùa Giao Sam đang được xây dựng mới rất đồ sộ trên khuôn viên đất hạn chế nên cảm giác choán ngợp không gian. Chùa hiện đang xây dựng ngôi Tam Bảo rất to lớn phía trước nhà Tổ đã khánh thành trước đó.
Chùa Giao Sam được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh.
Chùa tên chữ gọi là chùa Giao Sam cũ làm từ năm Lê Triều Vĩnh Thịnh Bát Niên (1712), nay bị thay thế hoàn toàn.

Công trình chùa Giao Sam được xây mới hoàn toàn trên khuôn viên cũ và không giữ lại gì đáng kể. Chùa hiện có hai hạng mục là Tam Bảo ở trung tâm thửa đất và nhà Tổ nằm ở phía sau.

Đình Giao Sam
Riêng đình trước kia gọi là miếu nhưng năm 2016 được trùng tu lại thành đình rất lớn.
Đình Giao Sam thôn Thích Chung hiện được xây mới trên nền của một ngôi đền cũ cạnh chùa Giao Sam do ngôi đình Cả (ở phần đất giáp với thôn bên cạnh) đã bị phá chỉ còn nền và hiện thôn bên đang xây mới một ngôi chùa trên nền đất của đình Cả (năm 1036, tổng Bá Hạ bắt đầu cho xây dựng Đình Cả hình chữ quốc bốn bề đâu cũng là gian giữa, đây là ngôi đình hàng Tổng trên đất làng Thích Chung, là niềm tự hào trong các hồi ức của dân làng dù cho đã bị phá hủy chỉ còn nền đất). Thành Hoàng làng được rước về đình mới thờ chung với vị Thần của ngôi đền cũ đã phá để xây đình mới hiện nay.

Miếu Tây

Công trình tín ngưỡng dân gian được xây dựng mới trên nền đất cũ.

Miếu được xây mới trên thửa đất hẹp, chỉ có phần sân nhỏ ở phía trước. Miếu được xây dựng gần vị trí cổng làng cũ đã bị phá.

Miếu Đông

Công trình tín ngưỡng dân gian được xây dựng mới trên nền đất cũ.

Miếu được xây mới trên thửa đất hẹp tiếp giáp đường làng, không có sân vườn cảnh quan.

Quán

Quán được xây mới ngoài rìa làng.

Quán được xây dựng đơn giản có cửa mở về bốn phía, không cánh của, mái lợp ngói đỏ.

Các Ao, Giếng

Khu vực giếng được gìn giữ khá tốt với việc khoanh rõ khuôn viên, giếng đều được xây lại bờ, sạch sẽ. Giếng ở đây hiện vẫn đang được sử dụng nên rất sạch sẽ.
Giếng của làng Thích Chung là một di sản đặc biệt vì thành giếng là những phiến đá sa thạch hình chữ nhật, hình vuông ghép lại, miệng giếng hình vuông, đáy giếng có miếng gỗ lim kè có tác dụng khử độc. Trên thành giếng có khắc chữ ghi lại niên đại của giếng và năm tu sửa.
Theo TS Nguyễn Văn Đoàn – Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thì về cơ bản các giếng có cấu tạo khá đồng nhất với tang (thành trên) hình vuông, được tạo bởi 4 phiến đá sa thạch hình chữ nhật màu xanh và vàng xám xếp khít dựng đứng bằng cách cắt vát và tạo lỗ mộng liên kết, kích thước dài khoảng từ 1,3m đến 1,54m, rộng khoảng từ 0,7m đến 0,96m. Trên một trong số 4 phiến đá ấy có ghi rõ niên đại xây dựng. Trên miệng giếng đều thấy dấu vết dây kéo lấy nước hằn những đường rãnh sâu. Cũng có người cho rằng, miệng giếng hình thành những đường lượn sóng là dấu tích của việc mài dao kiếm từ hàng trăm năm trước.

Người dân ở Vĩnh Phúc vẫn giữ thói quen sử dụng nước ở giếng cổ để sinh hoạt thường nhật.

Phía dưới thành giếng hình tròn, được tạo bởi những viên cuội sông suối (dạng thỏi) xếp quay ngang cắm vào làm cho thành giếng lô xô rất lạ mắt.
– Giếng Đông (nằm ở giữa đường liên thôn thôn Thích Chung)
Giếng cổ thứ 2 là giếng Đông làm sau 3 năm năm Hồng Đức Nhị Thập Tứ Niên (1493).

– Giếng Tây cạnh miếu Tây đã bị lấp miệng, trong nền một quán quà vặt nhỏ của một người dân trong làng lấn chiếm trước đây. Dân làng đang có ý đòi lại để khôi phục lại giếng này.
– Giếng Chùa nằm gần cổng chùa Giao Sam.
Giếng cổ nhất là giếng Chùa năm Hồng Đức Nhị Thập Nhất Niên (1490) Năm thứ 21 đời vua Lê Hồng Đức.

Duy nhất là ở giếng Chùa (Thích Chung), người xưa đã dùng cách khoét trực tiếp trên nền gò đối cấu tạo đá ong sạn cứng để tạo thành giếng. Đáy giếng khá sâu (khoảng trên dưới 5 m) được xử lý lọc nước bằng cách tạo các cũi gỗ xếp đều hoặc các phiến đá dẹt xếp nằm. Đây là cách xử lý kỹ thuật thường thấy trong các giếng do người Chăm Pa xây dựng.

– Làng Thích Chung có một ao làng hình tròn tại trung tâm của làng nhưng thuộc sở hữu của một hộ gia đình, còn lại có khoảng mười ao khác trong khuôn viên của làng.

CÁC DI SẢN KHÁC

Sử dụng vật liệu, phương thức xây dựng truyền thống
Làng Thích Chung là làng khá tiêu biểu về sử dụng các vật liệu truyền thống như gỗ, tre, nhà đất và gạch đá ong.
Với truyền thống có nghề mộc, nghề làm nhà gỗ, hiện nhiều nhà vẫn làm nhà theo hướng nhà cổ cải biên, giữ được khung gỗ vì kèo giá chiêng, chồng rường, cột gỗ kết hợp tường chịu lực, do chính thợ làng làm.
Cách làm nhà gỗ vẫn duy trì kiểu truyền thống: Gỗ Xoan, Lim, Mít đều được ngâm ít nhất 1,5 năm để tránh mối mọt trước khi xe ra để xây dựng.
Nhà xây đá ong còn khá nhiều. Tuy nhiên loại vật liệu này đã trở nên hiếm , đắt nên các công trình xây dựng hiện nay không sử dụng.

Tường gạch đá ong đặc trưng

Hệ sinh thái
Làng Thích Chung hiện hệ sinh thái đặc trưng của địa hình bán sơn địa. Có các chủng hệ sinh thái đất ngập nước, ao, sông, mương… và đất gò đồi.

Nhà cổ
Nhà cổ truyền thống trong làng không còn nhiều do bị phá để xây dựng nhà mới.

Ngôi nhà cổ làm hoàn toàn bằng đá ong, có tuổi đời hơn 100 năm của
gia đình anh Trần Văn Môn, thôn Thích Chung còn lại duy nhất ở làng.

CÁC DI SẢN PHI VẬT THỂ TIÊU BIỂU

Nghề truyền thống
Xưa làng Thích Chung có nghề khai thác đá ong xây nhà, xong hiện nay do mỏ đá ong đã hết nên nghề này không còn nữa.
Nghề đánh lưới ở hồ Đại Lải gần đó nay cũng không còn nữa.
Lễ hội
Hội làng: Hội làng Thích Chung diễn ra hàng năm vào ngày 15/3 Âm lịch…
Lễ hạ điền, thượng điền
Lễ Hội phật đản
Lễ Vu Lan

Ẩm thực, sản vật đặc thù
Trong làng Thích Chung có đặc sản cháo se và bánh gio làm vào dịp lễ tết, hội làng, tiệc, rằm…
– Món cháo se làm khá công phu, bột gạo tẻ ngâm xay bột nước rồi lọc qua vải để cô đặc, đợi nước sôi thì se bột thả vào. Cốt cháo từ bột ướt, nước ninh xương, thịt lạc băm nhỏ, gia vị thêm vào muối mắm mì chính, đặc biệt không cho hành, tiêu. Cháo chín thường được múc ra bát chiết yêu để cúng tế, để nguội rồi ăn.

 

– Bánh gio (tro) được làm từ gạo nếp ngâm trong nước tro của cành, quả xoan ta và cây gió (1 gió 3 xoan), tro được ngâm với nước vôi trước đó tầm 3- 4 tuần cho đến khi nước trong thì đem ra ngâm một ngày đêm với gạo vo sạch để khô cho hút nước gio. Vớt gạo ra để ráo nước rồi đem gói trong lá giong đã luộc rửa sạch. Luộc bánh tầm 4 tiếng sau khi sủi nước thì chính bánh. Bánh chín có màu vàng trong suốt. Khi ăn chấm với mật giọt làm từ mật mía, đường kính, mạch nha.

– Ngoài ra làng còn làm các loại bánh trưng, bánh trôi, bánh chay,… như các nơi khác trong các dịp lễ tết của năm lịch ta.

Nghệ thuật biểu diễn
Các trò chơi dân gian gắn liền với các ngày lễ tết làng Thích Chung: trò chơi đu; đấu và múa gậy; vật cầu; thổi cơm thi;
Các phong tục, tập quán tiêu biểu
– Thờ cúng tại gia đình.
– Thờ cúng tổ tiên tại dòng họ.
– Thờ Phật.
– Thờ cúng tam vị Thành Hoàng làng và các vị thần linh.
– Tục khao thọ (mừng thọ).

 

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC