Mô hình kiến trúc nhà ở nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng phát triển bền vững

Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Đình Thi

Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, trường Đại học Xây dựng

( Bài viết được trích trong kỷ yếu hội thảo Quy hoạch làng xã nông thôn ĐBSH tầm nhìn 2030 theo hướng phát triển xanh, bền vững).

1.Đặt vấn đề.

Mười năm gần đây, tại các vùng nông thôn nói chung và nông thôn đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nói riêng đã xuất hiện loại hình nhà ở nông thôn thế hệ mới (NONTM) cùng tồn tại bên cạnh không gian kiến trúc nhà ở nông thôn truyền thống. Từ khi NONTM ra đời nó đã mang trong mình những giá trị riêng, nó đáp ứng được điều kiện thiếu thốn về nhà ở tại các vùng nông thôn hiện nay trong khi đất đai ngày càng khan hiếm và dân số nông thôn ngày một đông lên; nó đáp ứng điều kiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế nông nghiệp cũng như kinh tế hộ gia đình; đáp ứng hiện đại hoá nông thôn và đứng trên góc độ nào đó nó góp phần làm thay đổi sắc thái nông thôn. Tuy nhiên, do chúng ta buông lỏng quản lý, thiếu kiểm soát chặt chẽ trong khi NONTM phát triển nhanh chóng, dẫn đến mặt trái của nó đang làm phá hỏng cấu trúc làng, xã nông thôn cũng như mất dần đi bản sắc văn hoá kiến trúc truyền thống mà ngàn đời nay cha ông ta dày công vun đắp. Nhằm ngăn chặn và giúp cho quá trình xây dựng NONTM phát triển có định hướng, cần phải quan tâm đến những bất cập đang này sinh cũng như đưa ra các nhóm giải pháp thích hợp đối với NONTM từ nhiều góc độ như quy hoạch, kiến trúc, vấn đề xã hội học, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn, phát triển dân sinh, chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn cho phù hợp. Dưới góc độ nghiên cứu về quy hoạch, kiến trúc chúng tôi muốn đề xuất một số mô hình NONTM tại vùng ĐBSH giúp cho các nhà kiến trúc, các nhà nghiên cứu lý luận về kiến trúc nông thôn, giúp cho bản thân người nông dân có những giải pháp cụ thể về kiến trúc NONTM, đồng thời cũng cho thấy kiến trúc NONTM cần quan tâm, cần được phát triển một cách bền vững, hài hoà với môi trường ở nông thôn.

2.Thực trạng về xây dựng, phát triển nhà ở nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng.

Bàn về thực trạng xây dựng, phát triển NONTM vùng ĐBSH, đã có nhiều nghiên cứu tổng thể về các vấn đề quy hoạch, phát triển nông thôn. Dưới góc độ của nhà chuyên môn, chúng tôi chỉ nghiên cứu đánh giá hai vấn đề có liên quan.

Thứ nhất: Tại các làng, xã truyền thống vùng ĐBSH hiện đang diễn ra việc xây dựng NONTM một cách tuỳ tiện, hình thức kiến trúc sao chép vội vàng, không có chắt lọc, không kế thừa các giá trị kiến trúc truyền thống; công năng nhà ở không đáp ứng được điều kiện hoạt động kinh tế hộ gia đình và đang phá vỡ cấu trúc quy hoạch làng, xã cũng như kiến trúc nhà ở truyền thống. Do nhu cầu về diện tích nhà ở cũng như xu hướng chuyển đổi từ cấu trúc gia đình lớn thành cấu trúc gia đình nhỏ nên người dân đã cắt khuôn viên khu đất theo truyền thống có sân, vườn cây, ao cá mà cha ông để lại chia cho con cháu thành nhiều lô đất bám vào đường làng, đường thôn; mỗi lô đất này thường có diện tích từ 100-150m2. Mặc dù gia đình người nông dân làm nông nghiệp nhưng do đất khan hiếm nên diện tích không đáp ứng điều kiện sản xuất nông nghiệp, không có sân phơi, không có vườn trồng rau, thiếu diện tích chuồng trại chăn nuôi gia cầm. Người dân làm nông nghiệp phải phơi lúa, thóc ở ngoài đồng, ruộng, trên đường giao thông, trong sân đình làng làm ảnh hưởng đến giao thông đi lại, ảnh hưởng đến không gian sinh hoạt cộng đồng và môi trường sống.

Thứ hai: Tại các điểm dân cư nông thôn mới có quy hoạch hoặc các điểm dãn dân bán đất theo phương thức “đổi đất lấy hạ tầng”. Hiện tượng phân chia lô đất rộng 5m, dài 20m bám theo trục đường liên thôn, liên xã với diện tích khoảng 100m2 đang rất phổ biến tại các vùng nông thông ĐBSH. Lý giải việc quy hoạch phân lô bám theo trục đường làng là việc chia nhỏ khu đất bán thu tiền nhanh (diện tích khu đất đủ lớn cho gia đình sinh hoạt và sản xuất không bán được do quá nhiều tiền) để đầu tư xây dựng nông thôn mới theo chủ trương thực hiện xây dựng nông thôn mới nhưng không được cấp kinh phí đầu tư và các tỉnh, huyện, xã, thôn phải tự lo lấy kinh phí mà xây dựng? Do đó,  việc bán các lô đất ở là đương nhiên và việc ảnh hưởng đến quy hoạch nông thôn sau này ra sao đã không được quan tâm. Phần lớn kinh phí thu được từ bán đất nền nhà ở này được đầu tư xây dựng trụ sở ủy ban, trường học, nhà trẻ, sân vận động, nhà văn hoá, đường giao thông nhằm đáp ứng 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Tình trạng chia lô đất ở theo mặt đường liên thôn, xã không phải do nhu cầu cấp thiết về nhà ở của người nông dân mà chính là nhu cầu cần kinh phí đầu tư xây dựng nông thôn mới và một vòng tròn luẩn quẩn xuất hiện: “phá vỡ cấu trúc làng, xã để xây dựng nông thôn mới” và “nghiên cứu xây dựng nông thôn mới nhằm hoàn thiện cấu trúc làng, xã”. (Hình: 1)

nongthonmoi1 nongthonmoi2

    Hình 1: Hình ảnh nhà ở xây chen trong làng và nhà ở bám theo trục đường làng

3.Những tác động ảnh hưởng đến kiến trúc nhà ở nông thôn mới.

Nhằm nghiên cứu đề xuất các mô hình NONTM đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn, ở, sản xuất kinh tế hộ gia đình người nông dân, chúng ta cần phải nghiên cứu các yếu tố tác động ảnh hưởng đến NONTM, từ đó mới tìm ra các giải pháp công năng NONTM thích ứng với mỗi nhóm hộ nông dân và phù hợp với môi trường nông thôn. Một số yếu tố tác động mang tính cơ bản đối với NONTM phải kể đến như sau:

– Yếu tố chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế nông nghiệp:

Yếu tố này rất quan trọng dẫn đến làm biến đổi không gian kiến trúc nhà ở nông thôn. Trước đây, nông dân chủ yếu sinh sống bằng nghề làm nông nghiệp, cấu trúc không gian ngôi nhà ở chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt, ăn ở và sản xuất nông nghiệp hộ gia đình. Sau thời kỳ đổi mới từ 1986, nhất là giai đoạn chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2008 bộ mặt nông thôn đã khởi sắc và cơ cấu nền kinh tế nông thôn đã chuyển hướng sang nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, thủ công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc và trồng cây công nghiệp. Như vậy, không gian nhà ở cần phải được chuyển đổi cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình người nông dân.

– Yếu tố chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn:

Chuyển dịch cơ cấu lao động là chủ trương, định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, là một xu hướng đúng đắn của quá trình phát triển nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tăng giá trị sản sản xuất các sản phẩm hàng hóa nông thôn trên cơ sở phát huy thế mạnh của lực lượng lao động.

Khi trình độ lao động được nâng cao, người nông dân chủ động chuyên canh nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá, chủ động chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng hàng hoá, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Một số lao động tách khỏi nông nghiệp đi theo hướng làm dịch vụ nông nghiệp, thương mại, một số trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thuỷ sản… Từ đó cho thấy, cơ cấu lao động dịch chuyển cũng sẽ làm biến đổi không gian nhà ở truyền thống sang các loại NONTM phù hợp hơn.

– Yếu tố biến đổi cấu trúc gia đình:

Như đã phân tích ở trên, quá trình biến đổi cấu trúc từ gia đình lớn “tam đại đồng đường” “tứ đại đồng đường” sang cấu trúc gia đình nhỏ, gia đình “hạt nhân” “hai thế hệ” đang trở thành phổ biến tại nông thôn. Thế hệ thanh niên nông thôn hiện có xu hướng thích sống độc lập hơn là phụ thuộc vào cha mẹ, do đó họ muốn có nhà ở riêng, có thể sống gần cha mẹ nhưng độc lập về kinh tế và nhà ở. Từ đó, có thể thấy các loại hình nhà ở đa thế hệ không còn thích hợp nữa và nhà ở hai thế hệ sẽ phù hợp với xã hội nông thôn trong tương lai.

– Dân số nông thôn và nhu cầu diện tích nhà ở:

Do dân số nông thôn ngày một đông, thử làm con số thống kê chúng ta sẽ thấy mặc dù tỷ lệ dân số sống ở vùng nông thôn ngày một giảm (tỷ lệ đô thị hoá tăng lên), tuy nhiên thực tế dân số nông thôn ngày một đông lên vì tỷ lệ sinh vẫn còn cao. Cụ thể vào năm 1999, dân số sống ở nông thôn là 76,5% trong khi dân số toàn quốc theo số liệu của Tổng cục Thống kê là 76.289.573 người (dân cư nông thôn là 58.361.523 người, dân số đô thị khoảng 17.900.000 người); Vào năm 2009, dân số sống ở nông thôn giảm xuống là 70,4% và dân số toàn quốc là 85.846.977 người (dân cư nông thôn là 60.436.271 người); Theo dự báo của Quỹ dân số Liên hợp quốc, đến năm 2024 dân số nước ta khoảng 99.000.000 người (dân số nông thôn ước tính là 67.200.000 người và dân số đô thị là 31.800.000 người). Như vậy chúng ta thấy rằng mặc dù tỷ lệ đô thị hoá ngày càng tăng, tỷ lệ nông thôn giảm nhưng do dân số tăng quá nhanh nên dân số nông thôn vẫn tiếp tục tăng lên. Do đó, nhu cầu về nhà ở và tình trạng khan hiếm đất đai tại nông thôn vùng ĐBSH ngày càng cao.

– Nhu cầu sử dụng trang thiết bị hiện đại trong nhà ở:

Cùng với nhu cầu về nhà ở tăng thì xu hướng dân cư nông thôn mong muốn sử dụng trang thiết bị tiện nghi trong nhà ở cũng tăng lên. Trước đây, các chức năng trong nhà ở truyền thống được phân chia rõ ràng, mạch lạc và một số chức năng bố trí cách xa nhau. Ví dụ các chức năng phụ như nhà bếp, kho chứa củi, thường đặt tách ra khỏi ngôi nhà chính; nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi đặt tách biệt cuối hướng gió và cuối khu đất ở. Ngày nay, người dân đã sử dụng bếp gar hay cho bếp củi đun; sử dụng khu vệ sinh khép kín với đầy đủ nhà tắm nước nóng, vệ sinh, bể tự hoại thay cho nhà xí thùng nên việc bố trí không gian NONTM cũng linh hoạt hơn, có thể đưa bếp vào không gian nhà ở, đưa khu vệ sinh lại gần không gian chính vừa tạo nên thuận tiện trong sinh hoạt mà cũng không ảnh hưởng đến môi trường sống.

– Nhu cầu về sử dụng công cụ lao động hiện đại:

Ngày nay, người dân nông thôn không sử dụng trâu bò để cày kéo như trước đây mà sử dụng máy cày, máy kéo phục vụ sản xuất. Như vậy, không gian NONTM hiện nay không cần khu chuồng trại chăn nuôi gia súc mà chỉ cần khu nuôi gia cầm như chó mèo, ngan, gà, vịt; không cần không gian để nông cụ lao động sản xuất nhưng lại cần nhà để xe ô tô tải, máy cày, máy kéo, máy xây sát gạo… Từ đó, cần thiết bổ sung và chuyển đổi một số chức năng của nhà ở truyền thống để đáp ứng nhu cầu sử dụng đối với NONTM.

4.Đề xuất mô hình kiến trúc nhà ở nông thôn mới.

– Đề xuất các loại hình NONTM:

Căn cứ vào tình hình thực tiễn sử dụng chức năng của NONTM đang diễn ra tại nông thôn vùng ĐBSH, chúng tôi đề xuất ra 04 loại hình NONTM nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh tế hộ gia đình của dân cư nông thôn (không tính đến nhà ở dân gian truyền thống).

1/ Nhà ở thuần nông thế hệ mới: là loại nhà ở thuần nông dành cho các gia đình sản xuất nông nghiệp. Cũng giống như loại hình nhà ở truyền thống trước đây, nhà ở thuần nông cũng có các chức năng cơ bản sau:

– Chức năng chính: gồm phòng tiếp khách, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, không gian thờ cúng tổ tiên.

– Chức năng phụ: phòng bếp, phòng ăn, kho, phòng vệ sinh, ban công, lô gia, sân mái, chuồng chăn nuôi gia cầm (không nuôi gia súc).

– Chức năng phụ trợ: cổng, ngõ, sân phơi (sân phơi có thể đưa lên mái tầng một), vườn trồng rau (có thể làm vườn trồng rau trên mái), nhà để xe, máy kéo, máy nông nghiệp.

2/ Nhà ở kết hợp làm dịch vụ, thương mại: là loại nhà ở không làm nông nghiệp mà chủ yếu làm thương mại, dịch vụ. Loại nhà này có các chức năng cơ bản sau:

– Chức năng chính: gồm phòng tiếp khách, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, không gian thờ cúng tổ tiên, không gian bán hàng và làm dịch vụ.

– Chức năng phụ: phòng bếp, phòng ăn, kho, phòng vệ sinh, ban công, lô gia, sân mái.

– Chức năng phụ trợ: cổng, vườn trồng rau kết hợp trồng hoa, bãi đỗ xe ô tô.

3/ Nhà ở kết hợp sản xuất tiểu thủ công: là loại nhà ở kết hợp với sản xuất tiểu thủ công như thêu, đan, dệt, làm mộc, làm sắt, các hàng thủ công mỹ nghệ khác. Cần lưu ý các loại hình sản xuất ở đây không ảnh hưởng nhiều đến môi trường sống, một số loại hình sản xuất độc hại, ảnh hưởng đến môi trường sống không nên kết hợp với không gian ở và không tổ chức tại các điểm dân cư nông thôn mới hoặc làng truyền thống. Loại nhà kết hợp với sản xuất tiểu thủ công có các chức năng cơ bản sau:

– Chức năng chính: gồm phòng tiếp khách, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, không gian thờ cúng tổ tiên, không gian sản xuất tiểu thủ công, làm nghề.

– Chức năng phụ: phòng bếp, phòng ăn, kho chứa nguyên liệu hay thành phẩm, kho chứa đồ, phòng vệ sinh, ban công, lô gia, sân mái.

– Chức năng phụ trợ: cổng, vườn trồng rau kết hợp trồng hoa, bãi đỗ xe ô tô, xe tải.

4/ Nhà vườn: là loại nhà ở vườn dành cho dân cư đô thị hoặc người giàu xây dựng tại nông thôn và muốn hưởng thụ môi trường ở nông thôn. Loại nhà này có các chức năng và diện tích như nhà ở truyền thống kết hợp với sử dụng tiện nghi cao của loại hình nhà biệt thự:

– Chức năng chính: gồm phòng tiếp khách, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng nghe nhạc, xem phim, phòng thư viện đọc sách, không gian thờ cúng tổ tiên.

– Chức năng phụ: phòng bếp, phòng ăn, phòng vệ sinh, ban công, lô gia, ga ra ô tô.

– Chức năng phụ trợ: cổng, vườn trồng rau kết hợp trồng hoa, vườn cây xanh, sân chơi, đường đi dạo, bể bơi, hồ nước, ao cá.

Ngoài ra, ở nông thôn hiện nay còn có loại hình nhà ở trang trại, đó là nhà ở kết hợp với sản xuất trang trại chăn nuôi gia súc, trồng rừng, nuôi thủy sản… do nhà ở này có đặc thù riêng là chỉ phục vụ cho sản xuất là chính và số lượng không nhiều cũng như không đồng đều giữa các vùng nông thôn nên không đưa vào nhóm nghiên cứu NONTM.

– Mô hình kiến trúc NONTM xây chen tại các làng truyền thống:

Tại vị trí bên trong câu trúc làng, xã ngoài nhà ở truyền thống chỉ nên cho phép xây dựng 02 loại hình nhà ở, đó là nhà vườn và nhà ở thuần nông. Nhà vườn do kế thừa và phát huy được các giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống cộng với các chức năng tiện nghi, hiện đại của nhà ở kiểu biệt thự nên mô hình nhà ở vườn kể cả hình thức kiến trúc cũng rất phù hợp với môi trường ở nông thôn nên chúng tôi không đề xuất. Ở đây, chỉ nghiên cứu đề xuất mô hình nhà ở thuần nông cũng như các loại hình NONTM khác.

Mô hình đề xuất là trên cơ sở khuôn viên khu đất nhà ở truyền thống dành cho đại gia đình lớn, chúng ta phân chia cho nhiều gia đình nhỏ (con, cháu, chắt). Tuy nhiên, mô hình này được tổ chức như một tổ hợp nhóm nhà ở gia đình. Đó là dành một không gian sân chung và giếng nước chung, không gian sân chung có chức năng sử dụng chung cho cả nhóm gia đình, ở đó tổ chức ma chay, cưới hỏi, ngày giỗ tổ tiên ông bà, là nơi vui chơi nghỉ ngơi cho trẻ em, người già của các gia đình, ngoài ra sân chung còn dùng cho phơi nông sản và làm mùa cho các gia đình thành viên; giếng nước có thể dùng chung tại góc sân dùng cho giặt giũ hoặc bơm nước cấp đến các hộ gia đình. Từ sân chung (có cổng ra vào chung) là đến các gia đình bố trí tạo thành nhóm nhà chung quanh sân, mỗi gia đình được tách khu đất độc lập (diện tích mỗi khu đất nên từ 150-200m2) thông qua các hàng rào cây xén tỉa như dâm bụt, chè mạn… trước các hộ gia đình bố trí các vườn cảnh hoặc trồng rau trước nhà, sau đó đến nhà ở, nhà ở bố trí từ 2-3 tầng, phía sau nhà ở bố trí chuồng nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan; khoảng giữa nhà và chuồng nuôi gia cầm có sân trong làm sân gia công phục vụ cho bếp và thông thoáng cho ngôi nhà. Nhằm tăng cường sân vườn cho các ngôi nhà thành viên, chúng ta bố trí trên mái tầng 1, tầng 2 sân mái trồng cây cảnh và sân chơi, mái của chuồng nuôi gia cầm đổ đất làm vườn rau trên mái và trồng giàn bầu, bí, mướp vừa cải thiện kinh tế vừa làm mát cho mái nhà; cần bố trí trên mái nhà chỗ đặt bể nước mái, và hệ thống nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời.  Hình thức các ngôi nhà ở này phải thống nhất với nhóm nhà và kế thừa hình thức kiến trúc nhà ở truyền thống, một phần lớn mái tầng 2, 3 nên sử dụng hình thức mái dốc lợp ngói hoặc dán ngói, hạn chế lợp mái nhà bằng vật liệu không thân thiện với môi trường như tôn, tấm fibroximăng. Mô hình nhà ở thuần nông thế hệ mới kiểu nhóm nhà gia đình vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn ở, sản xuất kinh tế nông nghiệp vừa gìn giữ được các giá trị láng giềng thân thiện, giá trị quần cư của dòng tộc, gia đình mà các giá trị đó chính là gốc rễ của sự cố kết bền vững của làng, xã nông thôn vùng ĐBSH đồng thời giữ gìn được hình thức khuôn viên khu đất và hình thức kiến trúc truyền thống nhà ở nông thôn. (Hình: 2)

nongthonmoi3

Hình 2: Nhà ở kiểu nhóm nhà gia đình

– Mô hình kiến trúc NONTM tại các điểm dân cư nông thôn mới, khu đất dãn dân:

Do yếu tố về vị trí, các khu đất dãn dân, đất xây dựng điểm dân cư nông thôn mới thường bố trí ở các trung tâm thị tứ làng, xã, tại các trục đường liên thôn, liên xã rất thuận lợi về giao thông đi lại, phù hợp cho buôn bán và làm dịch vụ nên giá trị đất đắt hơn nhiều so với đất ở trong làng. Do vậy, việc quy hoạch cần lựa chọn các loại nhà ở phù hợp để bố trí các khu đất ở và đối tượng ở cho phù hợp. Có thể chọn cả 04 loại hình NONTM đã nêu ở trên, tuy nhiên nên ưu tiên dành chủ yếu cho nhà ở kết hợp dịch vụ, thương mại; nhà ở kết hợp tiểu thủ công; nhà vườn và cuối cùng mới là nhà thuần nông. Các trục đường trung tâm bố trí nhà ở thương mại, dịch vụ; kế đến là nhà vườn và khu xa với trung tâm gần đồng ruộng, nơi có giá trị đất thấp nhất sẽ bố trí nhà ở thuần nông; diện tích lô đất dành cho nhà ở thuần nông cần phải rộng hơn so với nhà dịch vụ, thương mại.

Mô hình nhà ở dịch vụ, thương mại, sản xuất tiểu thủ công: Đề xuất chiều cao từ 3-4 tầng, phía tiếp giáp với trục đường bố trí không gian buôn bán, làm dịch vụ, làm nghề thủ công và giới thiệu nghề, chiều cao của không gian này từ 1-2 tầng (nếu 1 tầng nên có thêm gác xép làm kho chứa hàng); tiếp theo là không gian sân trong rồi đến nhà ở, cuối cùng là vườn cây xanh. Diện tích các lô đất dành cho các loại hình nhà ở này đề xuất theo modul là 5Mx20M (100m2) làm đơn vị cơ sở. Trên tầng mái bố trí sân chơi, vườn cây cảnh, hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời. Hình thức kiến trúc sử dụng mái dốc lợp hoặc dán ngói theo kiến trúc truyền thống. (Hình: 3, 4)

nongthonmoi4 nongthonmoi5

Hình 3: Mô hình nhà ở kết hợp với thương mại, dịch vụ

nongthonmoi6 nongthonmoi7

      Hình 4: Một số mô hình nhà ở kết hợp sản xuất tiểu thủ công

Mô hình nhà ở thuần nông: Đề xuất chiều cao từ 2-3 tầng, bố trí phía trước là sân để công cụ sản xuất, kết hợp sân phơi nhỏ, tiếp theo là nhà ở, vườn rau và cuối cùng là chuồng chăn nuôi gia cầm. Trên tầng mái bố trí sân phơi, sân chơi, vườn trồng rau, hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời. Hình thức kiến trúc sử dụng mái dốc lợp hoặc dán ngói theo kiến trúc truyền thống.

5.Kết luận, kiến nghị.

– Quá trình phát triển kiến trúc NONTM tại nông thôn vùng ĐBSH là tất yếu, tuy nhiên do thiếu định hướng quy hoạch, kiến trúc và buông lỏng quản lý nên dẫn đến NONTM hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu ăn, ở sinh hoạt và sản xuất kinh tế hộ gia đình người nông dân; hình thức kiến trúc chưa kế thừa được những giá trị kiến trúc truyền thống, còn rườm rà, sao chép lai căng tùy tiện; việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới còn mang tính hình thức, thiếu sự nghiên cứu cụ thể cho mỗi địa phương, thiếu mẫu nhà ở cho người dân tham khảo, lựa chọn.

– Nhằm đề xuất các mô hình NONTM thích ứng với nhu cầu người sử dụng, chúng ta cần nghiên cứu một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến kiến trúc NONTM như: Yếu tố chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế nông nghiệp; yếu tố chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn; yếu tố biến đổi cấu trúc gia đình; dân số nông thôn và nhu cầu diện tích nhà ở; nhu cầu sử dụng trang thiết bị hiện đại trong nhà ở; nhu cầu về sử dụng công cụ lao động hiện đại…

– Đề xuất 04 loại hình NONTM phù hợp với yêu cầu ăn ở và sinh hoạt của người đân đó là: 1/ Nhà ở thuần nông thế hệ mới; 2/ Nhà ở kết hợp với dịch vụ, thương mại; 3/ Nhà ở kết hợp với sản xuất tiểu thủ công; 4/ Nhà vườn.

– Đề xuất mô hình các loại hình NONTM xây chen tại các làng truyền thống như nhà ở thuần nông, nhà vườn. Nhà ở thuần nông xây tại làng truyền thống được tổ chức như nhóm nhà ở gia đình lớn trong đó có sân chung làm trung tâm, các hộ gia đình thuần nông cùng gia đình, dòng họ bố trí xung quanh.

– Đề xuất NONTM xây dựng tại các điểm dân cư nông thôn mới, tại khu đất dãn dân như nhà ở thuần nông, nhà vườn; nhà ở kết hợp với làm dịch vụ thương mại, nhà ở kết hợp sản xuất tiểu thủ công. Tại điểm dân cư nông thôn mới, nhà ở kết hợp làm dịch vụ thương mại bố trí ở trung tâm và bám các trục đường giao thông chính; tiếp đến là nhà ở kết hợp sản xuất tiểu thủ công và nhà vườn; ngoài cùng vùng ven, tiếp giáp với đồng ruồng dành cho nhà ở thuần nông.

– Nhà ở thần nông nên bố trí sân, vườn trồng rau, dàn cây dưới mặt đất hoặc bố trí trên mái tầng 1, tầng 2; cần bố trí các sân trong nhằm giải quyết thông gió, chiếu sáng tự nhiên; cuối khu đất bố trí chuồng chăn nuôi gia cầm bên dưới, bên trên mái trồng rau xanh.

– Nhà ở kết hợp với dịch vụ, thương mại, sản xuất tiểu thủ công cần bố trí tách riêng khu vực bán hàng, làm dịch vụ, giới thiệu hàng hóa, sản phẩm và sản xuất nghề phía trước khu đất, tách ra khỏi sân trong là không gian ở và cuối khu đất là vườn trồng cây xanh.

– Nhà vườn nên bố trí gồm có nhà chính, nhà phụ giống như nhà ở truyền thống, khuôn viên bố trí sân chơi, đường đi dạo, thảm cỏ, vườn cây hoa, cây cảnh, cây ăn trái; trước nhà hoặc bên hướng Nam của ngôi nhà bố trí bể bơi, ao thả cá; chung quanh hàng rào trồng cây xén tỉa.

– Nhằm phát triển NONTM một cách bền vững, các cấp các ngành cần quan tâm hơn nữa đến phát triển xây dựng nông thôn mới, nhất là vấn đề quy hoạch, kiến trúc, gắn với thiết kế các loại hình NONTM để người dân tham khảo, lựa chọn xây dựng cho phù hợp với môi trường ở nông thôn.

– Cần thiết phải bổ sung quy trình lập và phê duyệt các đồ án quy hoạch nông thôn mới, cần cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng nhà ở nông thôn xuống các cấp thôn, xã.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đình Thi. Kiến trúc Nhà ở nông thôn, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội – 2011.
  2. Nguyễn Đình Thi, Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp chuyển đổi không gian nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ trong quá trình đô thị hóa, Đề tài NC Khoa học và Công nghệ cấp Bộ – trường Đại học Xây dựng, năm 2011.
  3. Trần Ngọc Thêm,Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam, NXBTPHCM – 2001
BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC