Một số vấn đề trong công tác Quy hoạch bảo tồn và phát huy các giá trị di tích các làng cổ ở Đường Lâm.

Tháng 11 năm 2005, các làng cổ ở Đường Lâm thuộc thị xã Sơn Tây đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Phạm vi bảo tồn gồm 5 thôn: Mông Phụ, Cam Thịnh, Đông Sàng, Đoài Gíap và Cam Lâm trong tổng số 9 thôn của xã Đường Lâm. Diện tích khu vực bảo tồn khỏang 164,2 ha trong đó khu vực thôn Mông Phụ được bảo tồn tòan bộ với diện tích vùng 1 tòan thôn khoảng 14,6 ha.

Công tác quy hoạch đã được tiến hành với các bước: Khảo sát, đánh giá giá trị, lập quy hoạch bảo tồn, gắn kêt bảo tồn với quy hoạch xây dựng, khai thác du lịch, đề ra các quy chế bảo tồn và phát triển.

Bước khảo sát đánh giá là bước rất quan trọng trong quá trình quy hoạch bảo tồn. Mặc dù Đường Lâm đã được một số nhóm nghiên cứu của Nhật Bản, trường ĐH Kiến trúc và một số nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa thực hiện nhưng các nghiên cứu thường ở các khía canh khác như phi vật thể, kiến trúc chủ yếu về nhà ở, Đình, chùa. Khía cạnh quy hoạch chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Công tác quy hoạch đòi hỏi sự đánh giá tòan diện các khía cạnh từ cấu trúc quy hoạch, không gian cảnh quan, tới công trình và cả hệ thống xã hội hiện tại, các giá trị văn hóa phi vật thể, các tác động kinh tế, xã hội đương đại. Chính vì vậy đây là bước thực hịên công phu, khá phức tạp. Dưới đây là những giá trị tiêu biểu của các làng cổ.

1.Làng cổ ở Đường Lâm có giá trị tiêu biểu về mặt cấu trúc quy hoạch và không gian của các làng truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Có khả năng tôn tạo và phục hồi hòan chỉnh.

Các làng cổ ở Đường Lâm khá đặc biệt so với các làng xã truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng về tính liên kết lịch sử của các làng.

Mặc dù trước đây mỗi làng là một xã (thời Nguyễn còn có sổ địa bạ của các xã ) nhưng chúng đã có sự gắn kết với nhau. Trong 5 làng chỉ có Cam Lâm là tách biệt , còn lại 4 làng là Mông Phụ, Đông Sàng, Đòai Gíap, Cam Thịnh dính liền với nhau, không có đồng ruộng đan xen. Có tuyến đường chính liên kết giữa các thôn. Đã có cổng riêng nằm sát ranh giới các thôn mặc dù đến nay đã bị phá dỡ.

Không chỉ về mặt địa lý, khía cạnh văn hóa, tôn giáo cũng thể hịên tính gắn kết lịch sử của các làng. Ngoài Đình riêng của từng làng hiện còn có Đình Tổng (đặt tại Đông Sàng) thờ thành Hòang chung cho cả Tổng. Các làng không có chùa riêng (thường gặp ở hầu hết các làng truyền thống) mà chỉ có 1 chùa chung là chùa Mía, đặt tại Đông Sàng. Một số làng còn có ao chung ) Mông Phụ, Đoài Gíap). Cũng như những công trình như Đền Phủ bà chúa Mía, Đền Phùng Hưng, Lăng Ngô Quyền đối với người dân đều là những di tích tín ngưỡng chung, không phân biệt của làng nào.

Chính vì vậy việc đánh giá một cấu trúc truyền thống không chỉ xét riêng Mông Phụ mặc dù Mông Phụ được xác định là khu vực bảo tồn nguyên vẹn  (vùng I) mà cần được nhìn nhận trên khía cạnh tổng thể. Trong đánh giá cấu trúc truyền thống riêng từng làng có cấu trúc chung của các cụm làng.

Bảng thống kê các thành phần cơ bản của 5  làng cổ hiện nay

 
Các thành phần của cấu trúc truyền thống Mông Phụ    Cam Thịnh    Đông Sàng Đòai Gíap Cam Lâm
Cổng làng Còn 1 cổng Đã mất Đang xây dựng   lại 1 cổng Đã mất Đã mất
Lũy tre Đã mất Đã mất Còn một đọan Đã mất Đã mất
Đình riêng từng làng Còn (đã tôn tạo) Còn Còn (chưa tôn tạo) Còn Còn (chưa tôn tạo)
Đình chung                                      Đình Tổng (đặt tại Đông Sàng)
Chùa riêng Còn (chùa  Ón) Không Không Không Không
Chùa chung                                      Chùa Mía (đặt tại Đông Sàng)
Ao làng, giếng     Còn (6 giếng cổ) Còn ao, giếng Cón ao, giếng cổ Còn ao, giếng Còn giếng ( không còn ao)
Đường làng, ngõ xóm phân nhánh     Có
Qúan Đã mất Đã mất Đã mất
 nghĩa địa
Đồng ruộng Có (còn ít)
Cây cổ thụ Đã mất Có (khu vực chùa Mía) không Có nhiều
Đền, miếu, dấu ấn lịch sử khác. Có (miếu) Có di tích quan trọng Không Có nhìêu di tích quan trọng

Như vậy về cơ bản các thành phần của một làng truyền thống đều tồn tại trong các làng chứng tỏ chúng có sự độc lập nhất định trước khi phát triển gắn với nhau.

Riêng Chùa Ón (Mông Phụ) cần được làm rõ về tên gọi ( Theo một số người dân, đây là ngôi miếu Vật ở sau Đình Mông Phụ được chuyển ra vị trí hịên nay). Đây là công trình nhỏ, diện tích khoảng 12 m2, không có tượng Phật, bàn thờ vẽ hình rồng chầu mặt trời, hàng năm trước sân tổ chức hội thi đấu vật. Hiện tượng nhiều tên gọi khác nhau về nghĩa cũng là hiện tượng thường gặp tại Đường Lâm ( Đền gọi là Đình: Đền Phùng Hưng gọi là đình Cả, Đền Đức thánh Tản gọi là Đình Phố).

Tuy nhiên qua nghiên cứu cũng thấy Mông Phụ là làng cổ tiêu biểu nhất bởi hệ thống các di tích tiêu biểu cho một cấu trúc ruyền thống còn hầu như nguyên vẹn:

Không chỉ có hệ thống phân nhánh dạng xương cá như các làng khác. Mông Phụ có một cấu trúc hướng tâm khá đặc biệt đó là các đường ngõ xóm chính đều tụ về Đình (đường xóm Giang, xóm Hè, xóm Đình, xóm Sải). Thể hiện vai trò tinh thần rất lớn của Đình đối với cộng đồng. Với việc mở rộng sân trứơc đình ( trước đây là sân hợp tác xã) đã góp phần làm tôn thêm sự tập trung ấy, trở thành một không gian quảng trường đẹp của làng.

Sự khiếm khuyết của Mông Phụ về mặt cấu trúc hiện nay chỉ là sự mất đi của lũy tre làng và một số cổng cũ ( 4 cổng). Các yếu tố này đã xác định được vị trí cũ, hòan tòan có thể khôi phục lại.

Trong cấu trúc hướng nhà của Mông Phụ cũng đáng lưu ý là tất cả các ngôi nhà chỉ quay 2 hướng là hướng Nam ( chiếm 54,6 %) và hướng Đông ( chiếm 45,4%). Trong đó có tính khu vực rõ rệt như xóm Hè- xóm Đình), phía Nam Mông Phụ nằm quay về hướng Nam. Xóm Đình (bắc) và xóm Miễu nhà hướng Đông chiếm tới 83,7 %, nhà hướng Nam chỉ có 16,27%. Vừa nương theo địa hình vừa theo các hướng nắng, gió phù hợp nhất với tự nhiên được thể hịên rõ.

2. Làng cổ ở Đường Lâm có nhiều công trình kiến trúc nhà ở, đình chùa, miếu, cổng, giễng có giá trị kiến trúc, lịch sử, văn hóa.

Các làng cổ ở Đường Lâm hịên nay có 7 di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, 2 di tích được công nhận là di tích cấp tỉnh và 10 nhà cổ được công nhận là di tích cấp tỉnh. Rất nhiều các di tích, dấu ấn lịch sử khác. Kết quả điều tra đã thống kê được như sau:

Thống kê các công trình di tích ( chưa kể nhà cổ)

STT Công trình Vị trí  (thôn) Di ện t ích

(m2)

Đặc điểm
Công trình đã xếp hạng di tích
1 Đình Mông Phụ Mông Phụ 1770 Mới tôn tạo
2 Đình Đòai Gíap Đòai Gíap 1324 Chưa tôn tạo (di tích cấp quốc gia)
3 Đình Cam Thịnh Cam Thịnh 592,8 Đã tôn tạo ( di tích cấp tỉnh)
4 Nhà thờ thám hoa Giang Văn Minh Mông Phụ 416 ( di tích cấp Quốc gia) Đã tôn tạo
5 Chùa Mía Đông Sàng 3887 Đã tôn tạo( di tích cấp Quốc gia)
6 Đền (đình) Phùng Hưng Cam Lâm 2667,7 Đã tôn tạo( di tích cấp Quốc gia)
7 Đền Ngô Quyền Cam Lâm 16.084 Đã tôn tạo ( di tích cấp Quốc gia)
8 Lăng Ngô Quyền Cam Lâm
Công trình, di tích chưa xếp hạng
9 Xích Hậu Mông Phụ 77,4 Đang bị hư hỏng
10 Cổng làng Mông Phụ Mông Phụ 39 Đang tôn tạo
11 Chùa ón Mông Phụ 187 Đang bị hư hỏng
12 Văn Chỉ (+thư viện) Mông Phụ 866
13 Giếng cổ Mông Phụ (6 giếng). giếng xóm Hè, xóm Chim đã mất. Xóm Đình 87,8 Đang dùng giếng xóm Giang, Xui, Xây
14 Xóm Miễu 39,7
15 Xóm Xây 32,4
16 Xóm Giang 42,1
15 Xóm Sui 53,5
18 Xóm Sải 94,1
19 Điếm làng Mông Phụ Xóm Đình 47
20 Xóm Sui 1 22,7
21 Xóm Sui 2 44,7
22 Xóm Xây 29,8
23 Miếu làng Mông Phụ ( 4 miếu) Xóm Miễu 72,6
24 xóm Giang 14,4
25 xóm Hè 21,9
26 xóm Sải 37,12
27 Qúan Rô Mông Phụ 35,9
28 Qúan Lồ Bươu Mông Phụ 46,3
29 Đền thờ Thánh Tản ( Đình Phố) Cam Lâm 1131
30 Am nữ tướng (đền Mẫu) Cam Lâm 70,9
31 Rặng Duối cổ Cam Lâm 4.727
32 Giếng Sữa Cam Lâm ( 30 m2) Ngoài ranh giới QH
33 Đền, phủ bà chúa Mía Đông Sàng 523,9
34 Đình Đông Sàng Đông Sàng 1887 Giếng xóm Lếch đã bị lấp, có thể khôi phục được
35 Giếng xóm Chùa Đông Sàng 30
36 Giếng xóm Phan 2 Đông Sàng 17
37 Giếng cổ xóm Phe Thượng (giếng Hè) Đông Sàng 30
38 Đình Tổng Đông Sàng 602,4 Nhà dân xung quanh lấn át.
39-47 Miếu thôn Đông Sàng (9 miếu) Đông Sàng
48 Vườn Binh Đông Sàng 1233
49 Văn chỉ Đông Sàng Đông Sàng 954 Đang xây dựng lại

Các công trình di tích có quy mô nhỏ như miếu, điếm , giếng, quán …về mặt kiến trúc hầu hết là kiến trúc mới được tôn tạo, phục dựng lại. Tuy nhiên vai trò của chúng trong cuộc sống của cộng đồng dân cư truyền thống là không thể thiếu: Miếu thờ thần của mỗi xóm, điếm canh gần cổng làng, quán: nơi nghỉ chân trên đồng, giếng rải đều qua các xóm là nơi lấy nước ăn chung của làng. Những di tích này cũng cần được bảo tồn.

 Một số di tích đã mất có giá trị như cầu vào Cam Lâm, cổng thôn Cam Lâm, rạch Phủ (Đông Sàng), cổng Sui (Mông Phụ) cũng cần được nghiên cứu để khôi phục.

3. Làng cổ ở Đường Lâm có các giá trị văn hóa phi vật thể phong phú, có ý nghĩa lịch sử. Tiêu biểu là vùng đất 2 vua và nhiều danh nhân khác, lối sống cộng đồng, quan hệ dòng họ, hoạt động lễ hội, truyền thuyết, văn hóa ẩm thực.

Đây cũng là cơ sở để xác định tầm quan trọng của di tích, không chỉ căn cứ vào quy mô hay giá trị kiến trúc, nghệ thuật của công trình mà phải đánh giá giá trị tinh thần của chúng, ý nghĩa của chúng với đời sống của cộng đồng.

Các làng cổ ở Đường Lâm thấm đậm chất truyền thuyết của các danh nhân: Vua Phùng Hưng, vua Ngô Quyền, thám hoa Giang Văn Minh, bà Phi của chúa Trịnh. Các truyền thuyết này đều có gắn với các di tích làm cho chúng thêm thiêng liêng, huyền thoại: Truyền thuyết về đồi Hổ Gầm, vũng Hùm nơi vua Phùng Hưng đánh hổ. Truyền thuyết về rặng Duối cổ là nơi buộc voi của Ngô Quyền. Truyền thuyết về gò Vọng Cảnh ( Đoài Gíap) là nơi người dân đón đợi vua Phùng Hưng ( Bố Cái Đại Vương) thắng trận trở về (gò Bố về), cổng làng Đông Sàng cao cho kiệu bà Phi đi qua…

Các quan niệm về phong thủy cũng luôn để lại dấu ấn trên các công trình: truyền thuyết về đôi râu rồng bằng nước chẳy 2 bên đình Mông Phụ , con rồng chột mắt với 2 giếng 2 bên nhưng chỉ 1 giếng có nước (giếng Đình và giếng Miễu). truyền thuyết về Rạch Phủ là yếu tố tạo phong thủy cho đền phủ bà chúa Mía. Tryền thuyết về vị trí đắc địa về phong thủy của mộ cụ thân sinh cụ Phan Kế Toại.

Truyền thuyết về quán Rô, quán Giang vừa là nơi nghỉ chân làm đồng, vừa là nơi để thi hài của người mất ngoài làng. Các câu chuyện về đối nhân xử thế của làng Đường Lâm cũng khẳng định văn hóa cộng đồng lâu bền. Người đi xa về dù đỗ đạt cũng vẫn phải thể hịên sự tôn trọng cộng đồng, tôn trọng làng xã.

Chữ trên cổng làng thường đại diện cho quan điểm của cộng đồng về định hướng, mong muốn phát triển của làng.. Hiện nay chữ trên cổng làng Mông Phụ có 2 ý kiến, một cho là có nghĩa: Muốn hưng thịnh phải thích nghi, ý kiến khác dịch nghĩa: Đời nào cũng có người tài giỏi. Cần thống nhất lại. Đáng tiếng là hiện nay không thấy còn chữ đại tự trên cổng để kiểm chứng.

Giếng Sữa ở thôn Cam Lâm, một giếng nhỏ nằm cách ranh giới bảo tồn chừng 200m. Theo truyền thuyết khi phụ nữ mất sưã đến đây khấn và mang nước về uống sẽ có sữa trở lại. Truyền thuyết mang tính nhân văn sâu sắc. Vì vậy công trình cần được tôn tạo bảo tồn dù đang nằm ngoài ranh giới vùng 2.

Ngòai ra những câu ca như: Nước giếng Hè, chè Cam Lâm cũng khẳng định vị trí đầu về chất lượng nuớc giếng trong, mát của giếng Hè ( Mông Phụ, Đông Sàng).

4. Làng cổ Đường Lâm có giá trị tiêu biểu về việc sử dụng các vật liệu truyền thống trong xây dựng. Đặc biệt là đá ong và gạch đất. Có giá trị thể hiện phương thức phát triển của một mô hình cư trú truyền thống có lịch sử hàng ngàn năm.

Sử dụng vật liệu đá ong là dặc trưng tiêu biểu nhất trong phương thức xây dựng, tiếp đến là gạch đất, gạch nung. Những công trình sử dụng vật liệu đá ong, gạch đất, tuy đơn sơ nhưng thể hiện một ý nghĩa lớn về khai thác vật liệu địa phương, sử dụng vật liệu không nung, có ý nghĩa sinh thái. Các lớp vật liệu khác nhau thể hịên tính thời gian trên từng bức tường. Đây cũng tạo nên yếu tố thẩm mỹ đặc trưng của ngõ xóm làng cổ.

5.Làng cổ Đường Lâm có giá trị về không gian và cảnh quan đặc sắc với không gian đường làng, ngõ xóm, cổng, đồng ruộng, rộc, địa hình cảnh quan sông, hồ, cầu, cây xanh, mặt nước thiên nhiên đẹp, phong phú

Trong các không gian tiêu biểu của các làng cổ Đường Lâm, mỗi một làng cũng có những không gian đặc sắc riêng biệt. Nếu như Mông Phụ nổi bật với Đình Mông Phụ, cảnh quan cổng làng có cây Đa ao nước, ngõ xóm cổ kính, tường đá ong và nhà cổ nhiều thì thôn Đông Sàng lại có 2 di tích quan trọng là Chùa Mía, đền phủ bà chúa Mía và có luỹ tre duy nhất còn lại. Thôn Cam Lâm là khu vực có cảnh quan tự nhiên đẹp nhất với địa hình đồi dốc, đường vào làng qua sông Tích, nổi bật với cảnh quan lịch sử của Vũng Hùm, đồi Gầm, rặng Duối cổ và 2 di tích quan trọng là đền Phùng Hưng, đền- lăng Ngô Quyền.

Vào ngày mùa, những cây Đa, quán nổi bật trên cánh đồng lúa, đường làng đầy rơm, cảnh sản xuất vận chuyển tấp nập tạo nên những cảnh quan rất đặc trưng của làng cổ.

6.Làng cổ Đường Lâm tiêu biểu cho một mô hình cư trú dân cư nông nghiệp với mối quan hệ sinh thái nhân văn phát triển bền vững. Quan hệ dân cư- đồng ruộng, ở- sinh hoạt – sản xuất, con người – thiên nhiên có mối quan hệ mật thiết và tác động tương hỗ trong quá trình tồn tại phát triển. Có khả năng khôi phục các hệ sinh thái tự nhiên.

Trong làng xã, hệ thống xã hội quan hệ mật thiết với hệ tự nhiên. Hệ thống xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ sinh thái làng xã. Hệ tư tưởng tiểu nông, nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp duy trì sự khép kín của hệ sinh thái làng xã. Thói quen sống tiết kiệm đối phó vói những rủi ro bất ngờ của thiên tai. Người dân biết tận dụng nguyên liệu tự nhiên, chất thải, tái sử dụng các nguyên liệu vật dụng, nguồn nước cho các mục đích khác nhau.

Người dân sống hòa đồng với thiên nhiên.Thuyết phong thủy, Thiên- Địa – Nhân và những yếu tố tín ngưỡng dân gian như thờ thần cây cổ thụ (thần cây Đa, ma cây Gạo), thờ đá có tác dụng bảo vệ tự nhiên, chống can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.

Ngược lại các công trình, cách tổ chức không gian cũng góp phần củng cố tính ổn định của hệ thống xã hội trong làng xã. Sự tồn tại của các công trình như Đình, Chùa nhà thờ họ gắn liền với ý nghĩa bảo vệ và duy trì lối sống cộng đồng. Lũy tre, điếm canh để bảo vệ làng xã, quán phục vụ việc nghỉ ngơi khi làm đồng.

Sự tồn tại của cộng đồng dân cư hàng ngàn năm trên một phạm vi cư trú nhất định, không chỉ tồn tại dựa vào viêc khai thác tự nhiên mà còn dựa vào sức mạnh của văn hóa cộng đồng chứng tỏ làng xã  là một mô hình cư trú sinh thái nhân văn phát triển bền vững.

Đây cũng là một giá trị đặc biệt quan trọng của làng xã truyền thống cần được đánh giá trong các giá trị bảo tồn.

Những vấn đề của công tác quy hoạch

Việc bảo tồn cả làng cổ rất khác biệt với việc bảo tồn từng hạng mục các di tích tôn giáo tín ngưỡng bởi bảo tồn phạm vi làng là bảo tồn một cấu trúc sống, di tích cũng là môi trường sông của  người dân. Đang chịu các tác động của quá trinh đô thị hóa sâu sắc, của nhu cầu cuộc sống hiện tại. Rất khác biệt so với phương thức sản xuất, sinh hoạt trước đây.

Mâu thuẫn chính trong quá trình quy hoạch bảo tồn ở các vấn đề:

-Cấu trúc giao thông trước đây không đáp ứng được nhu cầu hịên nay: Nhu cầu sử dụng xe cơ giới, nhu cầu có đường ô tô cứu hỏa, cấp cứu, phát triển nghề truyền thống, chỗ đỗ xe khách tham quan.

-Nhà cổ cần được bảo tồn, không xây cao tầng, giữ gìn hình thái truyền thống mâu thuẫn với nhu cầu ở của người dân, nhất là với các gia đình không có nhà cổ những vẫn không được xây dựng cải tạo.

-Các di tích không có chức năng sử dụng giai đọan hịên nay (giếng, điếm, lũy tre bảo vệ, cổng). Khi khôi phục cần có vai trò chức năng phù hợp.

-Hạ tầng : Cấp điện , cấp nước, thóat nước phục vụ nhu cầu hiện tại và việc giữ gìn cảnh quan truyền thống (đường điện chiếu sáng, dây cột điện)

– Nhu cầu xây dựng các chức năng công cộng mới: Nhà trẻ mẫu giáo, trụ sở ủy ban, dịch vụ du lịch. Mẫu thuẫn giũa việc lựa chọn vị trí thuận lợi với việc bảo tồn các hình thái không gian chung của làng. Trong quá trình quy hoạch vẫn gặp các mong muốn của xã, người dân về việc xây dựng các công trình mới này ở các vị trí bất lợi cho việc bảo tồn không gian truyền thống  (nhà văn hóa xây trong khuôn viên đình Đông Sàng, Cam Lâm)

– Mối quan hệ giữa khu vực bảo tồn với khu vực lân cận: Khu vực giáp ranh với lối vào Mông Phụ, phần giáp sông Tích nằm ngoài ranh giới bảo tồn, không có cơ chế kiểm sóat.

-Trong quá trình thực hiện, vấn đề vốn đầu tư cũng là vấn đề quan trọng. Không thể chỉ trông chờ vào kinh phí Nhà nước mà cần có sự tham gia của cộng đồng, của xã hội.

-Sự chuyển đổi từ làng nông nghiệp sang làng bảo tồn là sự chuyển đổi tất yếu về cơ cấu nghề nghiệp từ thuần nông sang kết hợp làm dịch vụ du lịch. Người dân Đường Lâm hiện nay vẫn cơ bản là hoạt động nông nghiệp. Thu nhập thuộc loại thấp trong tỉnh, chính vì vậy sự thích ứng để chuyển sang làm dịch vụ du lịch trong những năm đầu sẽ rất khó khăn, xác định sẽ có những phản ứng do sự thu nhập phân chia lợi ích từ bảo tồn không đồng đều.

Đây là những thách thức bởi còn thấy những vướng mắc về cả luật bảo tồn, về sự nhận thức của cộng đồng,  của nhà đầu tư, của các nhà quản lý.

Việc đề xuất các giải pháp quy hoạch bảo tồn mới chỉ đóng góp 1 phần trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Đòi hỏi phải có sự tham gia đồng bộ của các ngành khác và của cả xã hội mới có thể thực hiện thành công công tác bảo tồn ở làng cổ Đường Lâm.

                                                    PGS. TS. Phạm Hùng Cường- ĐHXD

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC