Quy hoạch nông thôn mới: Mô hình kinh tế quyết định mô hình cư trú!

PGS.TS. Phạm Hùng Cường

Mô hình kinh tế vùng nông thôn của đô thị Hà Nội đang hoang mang và không ổn định. Từ lịch sử một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ, tự cung tự cấp, khép kín trong giai đoạn phong kiến và kéo dài đến những năm 1990, đến nay nền kinh tế nông nghiệp chịu tác động mạnh của quá trình đô thị hóa, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp mang nhiều tính tự phát của người dân dẫn đến kinh tế nông thôn đang bị xáo trộn lớn.

Sự hoang mang thể hiện trong việc tìm kiếm một hướng đi để phát triển kinh tế, phần lớn người nông dân vùng ven Hà Nội không thể  có cuộc sống tốt nếu chỉ nhờ vào hoạt động nông nghiệp. Những người già, yếu, vướng bận gia đình mới cam chịu ở lại làng còn những lực lượng lao động chính tham gia vào đội quân lao động thời vụ trong đô thị. Hiệu quả canh tác trên đồng ruộng thấp đã xảy ra nhiều hộ cho thuê đất để ra thành phố kiếm sống. Những người sống với kinh tế thuần nông là chấp nhận sự nghèo đói. Thu nhập bình quân của hộ gia đình mức sống được coi là trung bình chỉ là 25 triệu đồng/ năm, bằng khoảng 1/4  khu vực đô thị.

Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đang là bài toán khó để duy trì được tính ổn định của quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Một mét vuông ở vùng thuần nông có thể chỉ tạo ra một đồng, nhưng ở vùng ven đô, nhất là ven Hà Nội thì phải tạo ra 10 đồng mới thu hút được người dân tham gia. Khi việc trồng lúa, trồng màu không mang lại thu nhập bằng việc vào thành phố làm thêm thì đương nhiên, họ sẽ không chần chừ mà bán lại cho các dự án công nghiệp, khu đô thị mới.

Những mô hình hoạt động phi nông nghiệp, dịch vụ mới mang tính tự phát. Các làng nghề ngổn ngang với môi trường ô nhiễm, các hàng quán bám theo đường làng đến những quán đêm mang tính tiêu cực xã hội chứng tỏ kinh tế phi nông nghiệp mới đang trên con đường hình thành, chưa ổn định vững chắc.

Vậy nếu như nói rằng, xây dựng mô hình nông thôn mới cho Hà Nội là ngồi lập quy hoạch với những con đường rộng rãi, các kiểu mẫu kiến trúc sao cho thật truyền thống, thật thôn quê thì hoàn toàn không phải. Sự biến đối của cơ cấu kinh tế và phương thức sản xuất nông thôn vùng ven đô đang tác động sâu sắc đến mô hình tổ chức không gian cư trú. Nếu không có một mô hình phát triển kinh tế ổn định, bền vững sẽ không thể có một mô hình cư trú tốt.

Tam giác: Nông nghiệp – nông thôn – nông dân phải được nhìn nhận trong mối quan hệ hữu cơ thực sự mà một mình công tác quy hoạch mới chỉ là một vế không giải quyết tận gốc được các vấn đề.

Do đó, cần phải thiết lập các mô hình kinh tế thích hợp cho vùng ven đô, từ đó mới hy vọng xây dựng các mô hình cư trú hợp lý trên nền tảng các làng xã hiện nay.

Nhìn sang các nước khác trên thế giới, có thể thấy rất nhiều nơi cho ra đời khá thành công mô hình nông thôn mới. Trong đó phải kể đến mô hình “mỗi làng một nghề” của Nhật Bản, mô hình làng nông nghiệp ở Israel: Ki bút và Mô sáp… hay tại Đài Loan, Philipin, Hà Lan. Các mô hình này diện tích đất nông nghiệp tuy không nhiều, nhân công ít nhưng sản phẩm tạo ra lại dư thừa nhu cầu trong nước và mang lại giá trị xuất khẩu cao. Họ làm được, chúng ta cũng có thể làm được. Tuy nhiên, việc áp dụng những mô hình đó vào nước ta lại là vấn đề cần nghiên cứu kỹ.

Về lý thuyết, các nghiên cứu về Desakota (làng- đô thị) cho khu vực châu Á (Từ các nghiên cứu làng ở Indonexia, McGee1991) đã được nhiều nhà nghiên cứu phát triển khá sâu rộng rất đáng để chúng ta học tập. Các làng đô thị được nhìn nhận hữu cơ hơn với đô thị, nông thôn không tách rời sự phát triển của đô thị trên cả khía cạnh kinh tế, môi trường sinh thái, hạ tầng và đời sống xã hội. Điều này cũng không phải không được nhận thấy ở nước ta nhưng trong thực tế các quy hoạch phát triển đô thị, kiểm soát, quy định chưa bao giờ các vấn đề nông thôn được nhìn nhận song hành với vấn đề đô thị.

Có rất nhiều thách thức lớn đối với việc chuyển đổi mô hình kinh tế ở vùng nông thôn của Hà Nội. Đất đai manh mún, sức ỳ về truyền thống, sức hút đô thị hóa và nguy cơ đô thị thôn tính đất nông nghiệp…đều là những bài toán khó giải.

Khó khăn lớn nhất có lẽ là ở sự “tư hữu” đất đai quá lớn, đi sâu vào tiềm thức của người dân, các mảnh ruộng bị cắt vụn khó có thể tạo lập các mô hình kinh tế mới. Bài học về kết quả của chủ trương “dồn điền- đổi thửa” không mấy thành công cũng cho thấy, không thể thay đổi cách sở hữu, sử dụng đất nếu không đi kèm các mô hình kinh tế mới thực sự có hiệu quả.

Nếu bài toán về đất nông nghiệp được gỡ, có thể có nhiều mô hình đầu tư mới cho khu vực nông thôn. Một mô hình có thể nghiên cứu áp dụng, đó là nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp dám đứng lên đầu tư về lĩnh vực này. Các hộ dân góp đất lại, doanh nghiệp đứng ra đầu tư công nghệ. Như vậy, người dân vẫn có thể được làm việc trên mảnh đất của mình, trong những trang trại lớn với thiết bị công nghệ cao, có người hướng dẫn và đảm bảo đầu ra, đầu vào cho sản phẩm. Nhưng, điểm khác biệt đó là họ cũng vẫn được làm chủ, không phải đi làm thuê trên mảnh ruộng của mình. Lợi nhuận sẽ được chia công bằng theo tỷ suất đóng góp. Từ đó, cũng có thể dễ dàng định hướng cho các trang trại về hình thức cũng như mặt hàng sản phẩm đang có nhu cầu cao, cũng như xác định cụ thể thị trường phân phối, tránh tình trạng theo nhau làm, gây hiệu ứng thừa cục bộ. Nó khác hẳn với mô hình Hợp tác xã mà chúng ra đang áp dụng.

Bảo hiểm nông nghiệp cũng là một yếu tố cần tính đến để đảm bảo các ưu đãi trong sản xuất cho người dân. Nó có thể thực hiện được với sự hỗ trợ về chính sách của nhà nước, giống như Pháp hay Trung Quốc đã làm.

Từ các mô hình kinh tế mới, trang trại, làng sinh thái hay làng nghề, làng nông nghiệp công nghệ cao… các chức năng mới sẽ xuất hiện trong cấu trúc làng xã như các khu vực sản xuất tập trung, khu thí nghiệm, khu dịch vụ quảng bá sản phẩm, giao dịch, nhà ở mới và hệ thống hạ tầng giao thông mới tương ứng. Các chức năng mới này cùng với các khu vực hiện có của làng xã được nâng cấp tạo thành một mô hình cư trú mới. Điều khác biệt là tạo được sức sống thực sự cho các làng xã và cả sự chủ động trong đầu tư phát triển. Đó chính là cơ sở để lập quy hoạch nông thôn mới.

Không thể vẽ ra các viễn cảnh quy hoạch cho các làng xã với khoảng 200 tỷ đầu tư cho mỗi xã và trông đợi vào Nhà nước. Phải xuất phát từ các mô hình kinh tế mới. Các mô hình này phải có sự tham gia của cả 2 phía, từ phía nông thôn (nhân lực, kinh nghiệm truyền thống) và từ phía đô thị (các nhà đầu tư nông nghiệp, công nghệ mới). Các mô hình này có vận hành thành công thì công tác phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới mới thực sự có thể biến đổi theo hướng tích cực.

Nông thôn vùng đô thị đang ở những giai đoạn cực kỳ quan trong của bước ngoặt chuyển đổi. Phải vượt qua những thách thức nếu không sẽ dẫn đến đổ vỡ, suy tàn. Các mô hình kinh tế mới là hy vọng cho giải pháp quy hoạch mới và bền vững của làng xã, của nông thôn tương lai.

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC