Hệ sinh thái làng xã truyền thống

Hệ  sinh thái (ecosystem) làng xã

Hệ sinh thái làng xã truyền thống là hệ sinh thái có tính độc lập, nhiều chu trình khép kín. Có phân hệ sinh thái hộ gia đình, sinh thái làng xã và quan hệ sinh thái đô thị – nông thôn.

– Sinh thái hộ gia đình: Nhà ở với mô hình vườn – ao – chuồng (VAC) có thể coi là một đơn vị cân bằng sinh thái. Tạo được các chu trình khép kín về dinh dưỡng, chất thải.

– Sinh thái làng xã: Trong làng xã thuần nông, khu dân cư và đồng ruộng là hệ sinh thái cơ bản. Vòng tuần hoàn năng lượng, vật chất diễn ra khép kín trong làng xã. Các chu trình chất thải, chu trình dinh dưỡng được thực hiện với sự tham gia của con người và tự nhiên, ít có sự tham gia của các phương tiện kỹ thuật.

Ao làng Đường Lâm

Ao làng Đường Lâm

+ Nguồn lương thực thực phẩm tạo ra cơ bản trong phạm vi làng xã, đủ nuôi sống các thành viên làng xã, không phụ thuộc vào bên ngoài.

+ Các phế thải của người, vật nuôi, rác được tân dụng làm phân bón cho cây, cho lúa, làm thức ăn cho cá. Nước thải tưới rau hoặc chảy ra ao hồ, đồng ruộng. Vòng tuần hoàn của nước được thực hiện tốt với sự có mặt của hệ thống ao hồ, mặt nước phong phú.

+ Tận dụng các sản phẩm tự nhiên, tái sử dụng nhiên liệu và sản phẩm nông nghiệp: Đất vượt nền làm nhà, trở thành ao; cây trồng như xoan, tre làm nhà; đất làm gạch ngói; mái lợp rơm rạ, ngói. Chất đốt tận dụng phụ phẩm của nông nghiệp như rơm, rạ, thân cây ngô. Tận dụng năng lượng mặt trời trong phơi sấy, lên men chế biến thực phẩm…

Nhìn chung đặc điểm của hệ sinh thái làng xã truyền thống là các chu trình sinh thái cơ bản khép kín trong làng xã, ít có sự tham gia của công nghệ kỹ thuật, chu trình hoàn lại vật chất cơ bản phụ thuộc vào tự nhiên

Sinh thái nhân văn

Làng xã truyền thống là một đơn vị có mối quan hệ sinh thái nhân văn mật thiết. Tức là có mối quan hệ gắn bó giữa hệ thống xã hội và môi trường sống vật chất của con người. Thể hiện qua tính tương tác thích ứng giữa các biến đổi của hệ thống xã hội với môi trường sống. Môi trường vật thể góp phần tạo sự ổn định của môi truờng xã hội và ngược lại.

Trong làng xã, hệ thống xã hội quan hệ mật thiết với hệ tự nhiên. Hệ thống xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ sinh thái làng xã. Hệ tư tưởng tiểu nông, nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp duy trì sự khép kín của hệ sinh thái làng xã. Thói quen sống tiết kiệm đối phó vói những rủi ro bất ngờ của thiên tai. Người dân biết tận dụng nguyên liệu tự nhiên, chất thải, tái sử dụng các nguyên liệu vật dụng, nguồn nước cho các mục đích khác nhau.

Người dân sống hòa đồng với thiên nhiên. Nhà ở đặt theo hướng nắng gió tốt, trồng cây chắn gió lạnh. Thuyết phong thủy, Thiên – Địa – Nhân và những yếu tố tín ngưỡng dân gian như thờ thần cây cổ thụ (thần cây Đa, ma cây Gạo), thờ đá có tác dụng bảo vệ tự nhiên, chống can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.

Ngược lại các công trình và cách tổ chức không gian cũng góp phần củng cố tính ổn định của hệ thống xã hội trong làng xã. Sự tồn tại của đình, chùa, nhà thờ họ gắn liền với ý nghĩa bảo vệ và duy trì lối sống cộng đồng. Lũy tre, điếm canh để bảo vệ làng xã, quán phục vụ việc nghỉ ngơi khi làm đồng. Các Hương ước của làng đều có các điều khoản liên quan đến việc đóng góp xây dựng cơ sở vật chất cho làng xã.

Sự tồn tại của cộng đồng dân cư hàng ngàn năm trên một phạm vi cư trú nhất định, không chỉ tồn tại dựa vào viêc khai thác tự nhiên mà còn dựa vào sức mạnh của văn hóa cộng đồng chứng tỏ làng xã  là một mô hình cư trú sinh thái nhân văn phát triển bền vững.

Đây cũng là một giá trị đặc biệt quan trọng của làng xã truyền thống cần được đánh giá, bảo tồn  và phát huy giá trị.

    PGS. TS. Phạm Hùng Cường- 3/2016

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC