Hệ thống các giá trị di sản trong làng xã truyền thống vùng Đồng bằng Sông Hồng

 Muốn bảo tồn các giá trị di sản trước hết cần hiểu rõ đâu là các giá trị của di sản. Với làng xã truyền thống, hiện vẫn còn có sự chú trọng hơi thiên lệch vào việc bảo tồn các công trình kiến trúc chủ yếu như Đình, Chùa và các ngôi nhà cổ.

Tất nhiên Đình, Chùa, nhà cổ là những công trình thuộc nhóm di sản kiến trúc rất có giá trị. Tuy nhiên không thể nghĩ giá trị của làng xã chỉ có vậy. Rất cần sự nhận diện một cách đầy đủ để ta không làm mất đi các giá trị quý giá mà lại chỉ nhận biết khi nó đã mai một.

Qua các nghiên cứu, chúng tôi đó tổng kết và chắt lọc một hệ thống các giá trị di sản của làng xã truyền thống vùng ĐBSH như sau:

  1. Làng xã truyền thống là tế bào của xã hội người Việt, làm nên sức mạnh văn hóa của dân tộc Việt. Làng xã truyền thống là hình mẫu về việc tổ chức môi trường cư trú bền vững với khả năng tồn tại lâu dài, sự gắn kết mật thiết giữa các cấu trúc xã hội và cấu trúc không gian.
  2. Làng xã truyền thống có nhiều công trình có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, xây dựng (Đình, chùa, phủ, miếu, nhà cổ, giếng, ao…). Trong đó Đình, chùa, nhà cổ là những công trình có giá trị kiến trúc đặc sắc, tiêu biểu cho kiến trúc truyền thống của dân tộc.
  3. Làng xã truyền thống có các giá trị văn hóa phi vật thể phong phú, có ý nghĩa lịch sử. Tiêu biểu là lối sống cộng đồng, quan hệ dòng họ, hoạt động lễ hội, truyền thuyết, văn hóa ẩm thực, nghề truyền thống.
  4. Các làng truyền thống chứa đựng các giá trị tiêu biểu về phương thức xây dựng và việc sử dụng các vật liệu truyền thống. Có giá trị về sự sáng tạo, hợp lý, kinh tế, gắn bó với môi trường, có tính thẩm mỹ cao.
  5. Các làng truyền thống có giá trị về tổ chức không gian và cảnh quan đặc sắc với không gian đình, chùa, đường làng, ngõ xóm, cổng làng, đồng ruộng, ao hồ, địa hình cảnh quan sông, kênh mương, cây xanh, mặt nước đẹp, phong phú.
  6. Các làng truyền thống là mô hình cư trú dân cư nông nghiệp có mối quan hệ sinh thái và sinh thái nhân văn phát triển bền vững. Quan hệ dân cư – đồng ruộng, ở – sinh hoạt – sản xuất, con người – thiên nhiên rất mật thiết, tác động tương hỗ trong quá trình tồn tại phát triển.

Các giá trị 5,6,7 thực sự còn rất ít các nghiên cứu một cách đầy đủ, đây cũng là điều lo ngại về sự mất mát của nó và chúng tôi sẽ có gắng tập trung để tất cả các giá trị của di sản đều được sáng tỏ, được nhận diện với đúng giá trị của nó.

Bảy (7) giá trị này sẽ được chúng tôi trình bày qua từng bài viết. Và cũng mong được các ý kiến để đóng góp thêm cho hệ thống các giá trị di sản này.

                                      PGS.TS. Phạm Hùng Cường. 3.2016

Xin giới thiệu bài viết dưới đây, đã được đăng trong tạp chí chuyên ngành để làm rõ hơn những vấn đề đăng đặt ra.

 

DI SẢN LÀNG VIỆT, NIỀM TỰ HÀO VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN (1)

 

Tháng 11 năm 2005 các làng cổ ở Đường Lâm đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Đây là các làng Việt cổ đầu tiên được công nhận là di tích lịch sử văn hóa, mở ra một bước tiến mới trong việc giữ gìn các giá trị di sản văn  hóa trong các làng xã truyền thống.

Tuy nhiên, đây cũng là mở đầu một giai đoạn thách thức của công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trong làng xã bởi càng nghiên cứu sâu hơn, những giá trị vật thể và phi vật thể của làng Việt càng bộc lộ các giá trị lớn, trên nhiều khía cạnh với một quy mô lớn mà công tác bảo tồn chưa thể thực hiện trong một thời gian ngắn.

Những giá trị di sản đồ sộ

Về mặt tính chất, trước đây công tác bảo tồn mới tập trung vào đình, chùa, nhà ở cổ là công trình có giá trị kiến trúc, văn hóa, tín ngưỡng thì càng ngày chúng ta càng nhận thấy rõ các giá trị của làng xã bao trùm lên tất cả khía cạnh tổ chức môi trường sống, từ tổ chức xã hội tới kiến trúc, quy hoạch, từ công trình công cộng, tín ngưỡng tới nhà ở, kiến trúc nhỏ, phụ trợ và cả các công trình hạ tầng. Có thể kể đến các công trình như cổng làng, ao làng, giếng làng, miếu xóm, cổng làng, cổng nhà, đường ngõ, nhà ở (ngoài nhà cổ bằng gỗ truyền thống). Kế đó là các tổ hợp không gian cảnh quan rất đặc sắc như các tổ hợp Đình, chùa – Ao làng – Cây cổ thụ, tổ hợp Cổng làng – Cây đa – Lũy tre, hay Đường ngõ – Cổng xóm – Cổng nhà. Tất cả nằm trong một cấu trúc quy hoạch theo những khuôn mẫu hoàn chỉnh.

Về mặt quy mô, không phải chỉ có các làng cổ đã được biết tiếng như Đường Lâm (Sơn Tây), Cự Đà (Thanh Oai) mới có các di tích phong phú, mà hầu hết các làng xã vùng Đồng bằng Sông Hồng đều còn nhiều các di tích mang dấu ấn rõ nét của văn hóa làng xã truyền thống.

Với lịch sử hình thành từ rất sớm khoảng 1000-4000 năm trước, muộn nhất vào khoảng đầu thế kỷ 19 ở Thái Bình, hàng ngàn làng xã vùng Đồng bằng Sông Hồng đã có một bề dày lịch sử, thời gian khá dài để tích tụ các giá trị văn hóa tới ngày nay.

Nếu như làng cổ Đường Lâm có cổng làng đẹp giản dị nhưng đã trở thành biểu tượng của cổng làng Việt bởi tỷ lệ hài hòa trong tổ hợp cảnh quan cổng làng – cây đa – ao nước thì ở nhiều làng khác cổng làng lại có giá trị riêng như cổng làng Quang Minh (Mỹ Hưng, Thanh Oai), cổng làng Giàn (Cáo Đỉnh – Từ Liêm), cổng làng Lau (Trường Thịnh – Ứng Hoà) với tháp chuông bên trên hay như cổng làng Uớc Lễ, Trí Lễ (Thanh Oai) vững chãi, nghiêm trang như một cổng thành.

Nếu như làng cổ Đường Lâm có tới 6 giếng cổ tại thôn Mông Phụ và hàng chục giếng cổ tại các thôn Cam Lâm, Đông Sàng, Đoài Giáp thì ở nhiều làng khác cũng có những giếng nước xây đá, có cây đa rợp bóng bên bờ ao, đình thủy tọa trên mặt nước, những giếng làng xinh xắn nên thơ, rất trữ tình như ao làng Sặc Bính (Đồng Quang – Bắc Ninh), ao thôn Ỷ La, Dương Nội. Có ao còn có hoạt động diễn rối nước như ao Rối trước cổng Chùa Nành (Ninh Hiệp – Gia Lâm). Có giếng xây đá, đá ong, xây gạch, có ao thành không xây để đá ong tự nhiên và rất nhiều giếng có bàn thờ bên cạnh theo tục thờ nước.

Làng cổ Đường Lâm còn có “Giếng sữa” với truyền thuyết phụ nữ mất sữa khi đến làm lễ và mang nước về uống sẽ có sữa trở lại. Giếng vẫn còn được giữ đến ngày nay, nước giếng trong mát và câu chuyện niềm tin vào nước mang tính nhân văn sâu sắc.

Ao, giếng là một phần cuộc sống vật chất, tinh thần của người dân. Đã đi vào câu ca dao, vào các câu vè như “nước giếng Hè, chè Cam Lâm”. Người làng không khuyến khích đào giếng riêng vì sợ hỏng long mạch. Đây chính là ý thức cao về bảo vệ môi trường nước.

Những ngôi đình cũng có các giá trị cảnh quan rất đa dạng, không chỉ nghiêm trang, cổ kính như đình Bảng, đình Mông Phụ mà còn thơ mộng soi bóng trên mặt nước như  đình Sàn (Triều Khúc). Không chỉ có đình cho làng mà còn có đình cho cả tổng như đình Tổng (Đường Lâm).

Cây cổ thụ thực sự mang lại sự cổ kính, thâm trầm, yên bình cho làng xã. Vẻ đẹp cảnh quan do cây cổ thụ tạo nên cũng rất phong phú. Cây đa trước cổng làng Mông Phụ ấm áp với cổng, ao làng. Có cây đa nổi bật trên cánh đồng như cây trước lối vào làng Cam Lâm (Đường Lâm), cây đa cổ um tùm bên đền Sở Thượng, cây đa ven sông làng Sặc Bính – Đồng Quan. Có cây ăn lan vào cổng làng, giếng làng, rễ cây như vết thời gian chạm lên các bờ gạch rêu loang lổ.

Nếu đến Đường Lâm ta không thể không kinh ngạc bởi rặng Duối cổ xanh rì cao như những cây bóng mát cổ thụ, tương truyền là nơi buộc voi của Ngô Quyền. Từ một loại cây trồng hàng rào nay trở thành cây cổ thụ cao hơn 12m. Một bức tranh phong cảnh đẹp của hơn chục khóm cây chạy dài hướng xuống vũng Hùm trên nền cánh đồng lúa và đồi Hổ Gầm xanh ngắt.

Nhà ở dân gian khác ngoài nhà gạch – gỗ cũng là những công trình rất đáng được lưu giữ. Những ngôi nhà xây gạch đất (nhà bếp, nhà phụ) tại Đường Lâm cũng có tuổi thọ tới cả trăm năm. Nhìn vào bức tường một ngôi nhà phụ ở làng cổ Đường lâm cho ta bao cảm xúc về thời gian, về sự chắt chiu xây dựng của cha ông. Lớp gạch dưới cùng là gạch đá ong đã rắn chắc như thép, lớp trên là lớp đá ong mới hơn, lớp trên nữa là gạch đỏ, lớp trên cùng là gạch đất. Dấu ấn thời gian đọng trên từng lớp vật liệu như minh chứng cho những sự thăng trầm, sự biến cổ của con người, của thời tiết hay những biến cố nào khác.

Những lũy tre làng đan dày, kiên cố bảo vệ làng khỏi nạn trộm cướp bây giờ đã bị đốn chặt gần hết ở các làng do chức năng bảo vệ không còn nữa. Nhưng chỉ cần một đoạn sót lại của làng cũng cho ta hiểu một cấu trúc ở xưa đã gắn kết cộng đồng một cách hoàn hảo đến mức độ nào, người dân được bảo vệ, được an toàn trong cái vỏ bọc vững chắc cả về vật chất lẫn tinh thần ấy.

Các giá trị tinh thần của các di tích làng xã chứa đựng trong cái vỏ vật thể cũng cho ta nhiều suy nghĩ đến công tác quy hoạch ngày hôm nay. Đó là tinh thần bảo vệ cộng đồng, bảo vệ nơi cư trú, quan hệ láng giềng, sự tự hào về nơi cư trú của mình. Cộng đồng được bảo vệ trong quan hệ láng giềng ngõ xóm với rất nhiều cổng xóm vẫn còn lưu giữ. Với quan hệ dòng họ mà nhà thờ họ là ngôi nhà tinh thần chung của mọi người trong dòng tộc. Những dòng chữ trên cổng làng là thể hiện tính triết lý về cuộc sống hay mong muốn của cả một cộng đồng. Cổng làng Sặc (Đồng Quang) ghi: “Tiểu văn Đại La” dịch nghĩa là “Đi ít về nhiều” mong muốn sự thăng tiến của mọi người, cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm) ghi “Thế hữu hưng nghi đại” dịch nghĩa là “Đời nào cũng có người tài giỏi”. Người đỗ đạt đi về đến cổng làng cũng xuống kiệu đi bộ vào trong làng thể hiện sự tôn kính trước cộng đồng ấy.

Đình, chùa là của chung mọi người, là niềm tự hào của làng, là không gian vừa thân thuộc vừa thành kính. Đình Mông Phụ (Đường Lâm) được bố trí sao cho các con đường tụ vào đình nhưng không có con đường nào đối diện với cổng đình, vì vậy không ai có thể quay lưng lại phía đình. Đám ma người làng đi con đường riêng không mang qua đình.

Đường Lâm còn có gò Vọng Cảnh. Tương truyền là nơi người dân làng đợi đón Bố cái Đại vương Phùng Hưng thắng trận trở về. Trải qua hơn ngàn năm mà gò vẫn còn đó, rộng, cao ráo vẫn được người dân gìn giữ chứng tỏ một ý thức, một tín ngưỡng khi đã hình thành trong cộng đồng làng xã thì nó bền vững đến kỳ lạ.

Có những khu vườn đất trống nhưng không ai dám xây dựng bởi đó là đất chùa, đất Văn chỉ, Võ chỉ. Người dân vẫn mong có được kinh phí để dựng lại với lòng tôn kính những giá trị tổ tiên, ông cha để lại.

Có nhiều cổng làng cũ đã bị phá, người dân dựng lại rất sơ sài nhưng nó lại cho ta suy nghĩ. Rõ ràng cổng làng bây giờ không còn vai trò công năng bảo vệ làng nữa. Vậy mà người dân làng vẫn dựng lại nó dù kinh phí ít, cổng làng trông rất khiêm nhường. Bởi nó vẫn là cái cổng, thể hiện dấu ấn của làng, dấu ấn của một cộng đồng có cái riêng, cái tự chủ riêng ẩn ý niềm tự hào.

Làng xã có cái “tôi” của một mô hình cư trú, từ “làng tôi” nó gần gũi, thân thuộc với mọi người. Cộng đồng đô thị đâu có được cái tự hào ấy. Có ai nói về phường, khu đô thị với niềm tự hào, sự thân thương như vậy.

Người Pháp khi nghiên cứu làng xã Việt đã không khỏi khâm phục về sức mạnh của nó. Một cộng đồng cư trú trong một phạm vi nhất định, tuy không giàu có, trong một nền nông nghiệp tiểu nông đã đã tổ chức hoàn hảo cuộc sống, khai thác được tối đa tài nguyên, cuộc sống giàu lòng nhân ái, tính nhân văn, bảo vệ được cộng đồng, thân thiện với môi trường và tồn tại hàng ngàn năm. Những làng xã truyền thống xét về mọi mặt mọi tiêu chí đã chứng tỏ tính phát triển bền vững của nó.

Văn hóa Đồng bằng Sông Hồng không còn có những quần thể công trình nguy nga đồ sộ như kinh đô Huế nhưng bù lại nền văn hóa đó vẫn tồn tại trải rộng và thấm sâu trong hàng ngàn làng xã truyền thống. Khẳng định giá trị văn hóa: Tổ chức xây dựng môi trường sống cộng đồng trong các làng xã là một hệ thống giá trị lớn, quy mô lớn.

Điều này đặt trên vai những người phát triển đô thị một trách nhiệm nặng nề bởi chúng ta đang thu hẹp nông thôn, làm biến đổi làng xã và đương nhiên làm mất đi các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của chúng, mất đi môi trường thật nuôi dưỡng các giá trị văn hóa.

(1-Bài viết đăng trong tạp chí Kiến trúc- Tháng 12-2008)


BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC