Tổng quát về làng xã truyền thống vùng Đồng bằng Sông Hồng

Bài viết này nhằm giới thiệu một các khái quát nhất về làng truyền thống, các giá trị di sản của từng thành phần sẽ được giới thiệu trong các bài viết chi tiết.

Lịch sử hình thành

Nói đến làng xã truyền thống Việt Nam thì đại diện chính là làng xã vùng Đồng bằng Sông Hồng, cái nôi của văn hóa Việt. Với lịch sử phát triển và văn hóa khá tương đồng, các làng xã vùng Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh có lịch sử hình thành khoảng từ 1000-4000 năm. Muộn hơn là các làng ở Hải Phòng, Thái Bình, muộn nhất hình thành ở Kim Sơn, Tiền Hải với các doanh điền của Nguyễn Công Trứ. Năm 1940 ở Bắc Kỳ đã có hơn 20.000 xã.

Hiểu một cách khái quát về làng Việt cổ truyền thì  ’’làng là một tế bào xã hội của người Việt. Nó là tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng, cùng sống trên một khu vực gồm một khu đất để làm nhà ở và một khu đất để trồng trọt, một tập hợp những gia đình nhỏ sản xuất và sinh hoạt độc lập”.

Trải qua quá trình phát triển, làng dần trở thành một đơn vị xã hội cơ bản. Với sự hình thành các mối quan hệ về huyết thống, sự liên kết những người cùng sinh sống theo địa vực, chống chọi với thiên nhiên, khai phá đồng bằng đã tạo nên tính cộng đồng riêng biệt của làng xã.

Làng trở thành một đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã) từ thế kỷ VII dưới thời thuộc nhà Đường. Đến thế kỷ thứ XIX có tới 12 loại đơn vị hành chính cấp cơ sở ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ như xã, thôn, phường, giáp, trang trại, xóm… Tuy nằm trong các đơn vị hành chính khác nhau nhưng làng vẫn là một đơn vị xã hội cơ bản.

Tên gọi làng xã

Làng truyền thống là đơn vị xã hội cơ bản, xã là đơn vị hành chính có thể bao gồm 1 làng hoặc nhiều làng. Dưới xã có các thôn, dưới làng có các xóm. Có xã 1 thôn thì làng, xã, thôn là một. Có khi nhiều xã hợp lại thì một xã lại trở thành thôn. Tuy xã là đơn vị hành chính, có thể có những thay đổi qua các giai đọan nhưng làng vẫn là đơn vị cơ bản của xã. Nói làng xã là đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa của điểm dân cư truyền thống.

 Cấu trúc xã hội

Quy mô dân cư

Thời Lê Thánh Tông, đại xã có 500 hộ trở lên, khi nào số dân vuợt quá số ấn định ấy 100 hộ thì được tách ra lập xã mới. Cũng theo P.Gouru (1936) trung bình mỗi làng có 1000 dân, làng lớn trên 5000 dân, thậm chí có làng trên 10.000 dân, diện tích trung bình khoảng 200 ha, làng nhỏ dưới 50 ha, làng lớn đến 500 ha. Hiện nay số dân một xã vào khoảng từ 5000-12000 dân, mỗi xã có từ 1 đến 5 làng.

Cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội

Làng xã truyền thống có mối quan hệ cộng đồng rất cao với các mối quan hệ xã hội như:

Gia đình và dòng họ: Giai đoạn phong kiến, với sự ảnh hưởng của Nho giáo, người trưởng họ có uy quyền lớn trong dòng tộc. Sự tôn trọng dòng họ, muốn dòng họ có uy thế trong làng xã hiện còn ảnh hưởng rõ nét đến ngày nay. Vai trò của người đàn ông trong gia đình được đề cao, người phụ nữ phải tuân theo “tam tòng tứ đức”.

Quan hệ láng giềng ngõ xóm: Làng được chia thành nhiều xóm, xóm được chia thành nhiều ngõ. Tuy xóm ngõ chỉ là một bộ phận về mặt cư trú nhưng có có một cuộc sống riêng. Sự giúp đỡ ma chay cưới xin và sự hỗ trợ trong lao động sản xuất thường diễn ra giữa những người cùng xóm ngõ. Quan hệ hàng xóm láng giềng tiêu biểu cho mối quan hệ cộng đồng làng xã, người làng thường có câu “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.

Quan hệ nghề nghiệp: Thông qua các phường hội nghề thủ công.

Quan hệ giữa những người cùng hệ về học hành, bằng cấp, tuổi tác: Trong làng có nhiều hội: hội Tư văn, Tư võ, hội đồng môn, đồng niên…

Như vậy, một cá nhân trong làng xã có nhiều mối quan hệ ràng buộc: Trong gia đình, trong dòng họ, trong mối quan hệ với người làng, mối quan hệ với các đồng nghiệp, đồng môn, quan hệ với chính quyền. Các mối quan hệ này đan xen, tác động lẫn nhau. Người làng làm gì cũng phải nhìn vào nhiều mối quan hệ để ứng xử.

Các tổ chức xã hội tiêu biểu :

+ Giáp: Tổ chức của nam giới trưởng thành. Phổ biến ở mọi làng xã. Còn thấy tên gọi ở một số phường của Hà Nội như phường Giáp Bát (tên nôm là Làng Tám), Giáp Nhị, Giáp  Nhất.

+ Phường: Tổ chức nghề nghiệp, thường hình thành trong các làng nghề.

+ Hội, phe: Phe tư văn, phe tư võ… Tổ chức tương trợ hoặc cùng sở thích, cùng đối tượng (ngạch văn hoặc ngạch võ).

Thể chế xã hội: Thời Pháp, chính quyền vẫn cùng chế độ phong kiến duy trì làng xã tự quản. Làng xã có Hội đồng kỳ mục, hội đồng xã, lý trưởng, tuần đinh… thực hiện các nghĩa vụ quản lý Nhà nước. Nhưng đồng thời làng cũng có lệ làng riêng (Hương ước) với sức mạnh chi phối cuộc sống xã hội của cộng đồng, đôi khi vượt lên cả sự chi phối của luật pháp quốc gia. Người dân thường nói “Phép vua thua lệ làng”. Vẫn có thể thấy sức mạnh của lệ làng qua các bản Hương ước còn lưu giữ đến ngày nay.

Tôn giáo tín ngưỡng: Người dân vùng Đồng bằng Sông Hồng chịu ảnh hưởng của các dòng tôn giáo như Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo. Thời thuộc Pháp còn có sự du nhập của đạo Thiên Chúa và một số dòng khác. Có sự hòa đồng của các tôn giáo kết hợp với các tín ngưỡng bản địa như thờ người anh hùng, thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng, những người theo đạo Thiên chúa cũng không coi đạo khác là tà đạo. Việc thờ cây, thờ đá cũng có tác dụng bảo vệ thiên nhiên: “Thần cây Đa, ma cây Gạo, cú cáo cây Đề’

Hoạt động kinh tế

Hoạt động nông nghiệp trồng lúa nước với nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp là đặc điểm cơ bản của nền kinh tế làng xã thời phong kiến. Nhà nước phong kiến chống lại việc sở hữu lớn ruộng đất. Đạo luật năm 1708 cấm các quan chức và các nhà hào phú lợi dụng sự nghèo khó hay sự lưu tán của dân làng để cưỡng mua nhiều ruộng đất và lập nên trang trại lớn. Thời Pháp ở Bắc Ninh chỉ có 8% số chủ đất có từ 3-10 mẫu.

Sản xuất nhỏ tự cung tự cấp và đặc biệt chế độ ruộng công (ruộng quan, ruộng đình, ruộng chùa, ruộng họ…) luôn được duy trì ở một mức độ nhất định càng củng cố thêm tâm lý lối sống cộng đồng khép kín, tính tự trị ở làng xã.

Nhìn chung, các quan hệ xã hội và thể chế xã hội nổi bật của làng xã truyền thống đó là mối quan hệ cộng đồng đan xen, nhiều chiều và tính tự trị rõ nét. Điều này đã tạo nên sức mạnh của cộng đồng, đảm bảo sự tồn tại của làng xã hàng ngàn năm, tạo nên những giá trị văn hóa truyền thống.

Cấu trúc không gian làng xã truyền thống

Các làng xã vùng Đồng bằng Sông Hồng có cấu trúc tương tự như nhau. Nhìn tổng thể làng nằm trong một khu vực đất cao ráo có luỹ tre bao bọc, xung quanh là đồng ruộng.

Các thành phần chủ yếu của làng có Lũy tre, cổng – Nhà ở – Công trình công cộng (đình, điếm, quán, văn chỉ…) – Công trình tôn giáo (chùa, miếu, phủ…) – Giếng, Ao làng –  Cây xanh trong làng – Đồng ruộng – Nghĩa địa.

Hệ thống đường giao thông làng phân nhánh kiểu cành cây hoặc kiểu răng lược.

Cấu trúc phân nhánh kiểu cành cây là phổ biến hơn cả. Những làng có cấu trúc kiểu răng lược là những làng ven sông, hồ như làng Nghi Tàm (Tây Hồ – Hà Nội) nằm ven hồ Tây, hay làng Khúc Thủy, Cự Đà (Thanh Oai) nằm ven sông Nhuệ.

Trong làng thường có trục đường chính (đường làng), dưới là các xóm, ngõ. Xóm là tên gọi chỉ một khu vực các hộ gia đình đi chung một đường ngõ chính nối với đường làng. Rất ít các ngõ nối thông với nhau, hầu hết là ngõ cụt. Vì thế, thường có tình trạng “Gần nhà, xa ngõ”. Nhiều làng có cổng của ngõ (xóm). Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây hiện còn các xóm: xóm Sui, xóm Sải, xóm Đình, Xóm Miễu, xóm Giang…

Làng thường chỉ có 1, 2 cổng chính nối với đường liên xã, còn lại là cổng của đường ra cánh đồng.

Hệ thống đường dựa trên phương tiện giao thông đi bộ. Đường làng thường rộng 2,4-3,5m, đường chính rộng khoảng 5m (phần đường lát 3-3,5m). Đường lát gạch đỏ, gạch lát nghiêng, có thể vận chuyển lúa, nông sản bằng phương tiện xe trâu bò kéo.

Sơ đồ làng xã truyền thống ĐBSH điển hình

Sơ đồ làng xã truyền thống ĐBSH điển hình

gtclx_2

Sơ đồ thôn Mông Phụ - Đường Lâm

Sơ đồ thôn Mông Phụ – Đường Lâm

Dưới đây là mô tả một số thành tố cơ bản trong cấu trúc của làng xã truyền thống.

 Cổng làng

Các làng đều có cổng làng, có 1 hoặc nhiều cổng. Cổng xây có cánh. Có loại cổng có mái và loại không có mái, có nơi trên cổng có chuông. Cùng với luỹ tre dày đặc, cổng có vai trò bảo vệ làng khỏi nạn trộm cướp.

Trên cổng thường có chữ đại tự ghi chữ thể hiện ước nguyện hoặc niềm tự hào của làng.

Cổng làng Đường Lâm thuộc dạng có mái (thượng gia hạ môn), trên xà nóc có ghi: “Thế hữu hưng nghi đại”, tạm dịch nghĩa ‘Đời xưa đã hưng thịnh, đời này cũng phải được như vậy ” (có tài liệu dịch là: “Đời nào cũng có người tài giỏi”). Cổng làng Trang Liệt (làng Sặt) ghi: “Tiểu văn đại la”, dịch nghĩa “Đi ít về nhiều”.

Một số nơi cổng còn xây kiên cố như cổng thành, kết hợp với hào xung quanh.

Cổng làng Đường Lâm, Sơn Tây

Cổng làng Đường Lâm, Sơn Tây

Cổng làng Đồng Kỵ - Bắc Ninh

Cổng làng Đồng Kỵ – Bắc Ninh

Lũy tre

Lũy tre làng Đường Lâm

Lũy tre làng Đường Lâm

Cùng với cổng là lũy tre làng đan dày tạo thành hệ thống bảo vệ vững chắc cho làng xã khỏi trộm cướp. Đây là thành tố quan trọng và được người dân bảo vệ. Lũy tre trồng dày, chim không bay lọt. Chỉ có làng nào làm phản lại chính quyền trung ương thì sẽ bị chặt hạ toàn bộ luỹ tre, lúc đó làng trơ trọi và là niềm sỉ nhục lớn với người dân trong làng.

Đình làng

Đình làng được hình thành khoảng thế kỷ XV. Đình vừa là công trình công cộng (trụ sở hành chính của xã, nơi hội họp) vừa là công trình tín ngưỡng. Đình làng phát triển rầm rộ dưới thời vua Lê Hy Tông (1675-1705) và tiếp tục phát triển trong khoảng thế kỷ XVIII-XIX.

Đình thờ Thành Hoàng làng, là vị thần che chở phù hộ cho người dân trong làng. Thành Hoàng có thể có tên tuổi cụ thể (các anh hùng), hoặc là vị thần thánh (ví dụ như Thánh Tản viên), hoặc có khi chỉ là người ăn mày, người chết trôi. Thành Hoàng thường có sắc phong của Vua.

Đình làng cũng là nơi sinh hoạt cộng đồng của người dân, nơi diễn ra các buổi xử kiện, giải quyết các vấn đề nội bộ của làng, họp các Giáp. Có lễ hội Đình.

Đình làng Mông Phụ - Đường Lâm - Sơn Tây

Đình làng Mông Phụ – Đường Lâm – Sơn Tây

Vị trí của đình thường đặt ở vị trí trung tâm của làng. Tuy nhiên, cũng do hình thành sau sự xuất hiện của dân cư nên khi không còn đất đặt trong trung tâm người ta có thể đặt đình phía đầu làng hoặc rìa làng (Đình không đặt theo một hướng nhất định).

Kiến trúc của đình làng thường được chú trọng. Đây là công trình có quy mô lớn nhất trong làng và thường là niềm tự hào của người dân. Đình là công trình kiến trúc có dấu ấn văn hóa nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu nhất trong làng xã truyền thống và cũng là công trình kiến trúc truyền thống Việt Nam tiêu biểu nhất.

 

Chùa

Chùa thờ Phật, chùa làng miền Bắc theo dòng Đại thừa. Chùa xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ X, thịnh hành dưới thời nhà Lý. Đây là tôn giáo được hình thành sớm và sâu rộng trong hầu hết các làng xã. Vì vậy, hầu như tất cả các làng còn giữ được chùa làng. Chùa làng giai đoạn sau có sự pha trộn của đạo Lão nên một số chùa thờ cả thánh, dạng “tiền Phật hậu Thánh”.

 

Miếu xóm Hè, thôn Mông Phụ, Đường Lâm

Miếu xóm Hè, thôn Mông Phụ, Đường Lâm

 

Miếu

Miếu thờ thần trong các xóm. Miếu thường xây đơn giản nhưng là công trình có ý nghĩa quan trọng về tín ngưỡng của người dân, phù trợ cho người dân trong xóm..

Phủ, đền

Công trình thờ Mẫu, thờ Thánh, Thần, người có công với làng, với đất nước. Đây là tín ngưỡng của đạo Lão và tín ngưỡng dân gian. Người dân tin vào có ma, quỷ, thần thánh và tôn thờ như một lực lượng bảo vệ làng.

Đền phủ Bà chúa Mía (Đường Lâm)

Đền phủ Bà chúa Mía (Đường Lâm)

Văn chỉ

Là công trình thờ Khổng Tử và cũng là nơi sinh hoạt, tụ họp của hội Tư văn, những người đỗ đạt có bằng cấp trong chế độ phong kiến. Các làng có nhiều người đỗ đạt mới có công trình này.

 

Văn Miếu

Thờ Khổng Tử. Công trình này thường đại diện cho một vùng. Không phải làng xã nào cũng có. Ngoài Văn Miếu Hà Nội còn thấy một số nơi như văn miếu ở Hưng Yên, ở thôn Văn Miếu- xã Đường Lâm.

 

Võ chỉ

Công trình là nơi hội họp của những người theo ngạch võ. Công trình này hiếm thấy hơn Văn chỉ. Điều này cũng chứng tỏ những người theo ngạch văn được trọng hơn.

Nhà thờ họ

Do các dòng họ tự xây dựng. Công trình có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn tính liên kết mật thiết trong dòng họ. Đây là công trình phổ biến ở tất cả các làng truyền thống.

Nhà thờ tổ nghề

Các làng nghề nổi tiếng thường có nhà thờ tổ nghề. Làng Định Công (Hoàng Mai) có nhà thờ tổ nghề kim hoàn.

Thọ từ

Nơi tổ chức lễ thượng thọ cho các cụ trong làng. Công trình cũng hiếm gặp. Mới thấy ở làng Cự Đà (Hà Nội).

Quán

Quán Lồ Bươu (Mông Phụ)

Quán Lồ Bươu (Mông Phụ)

Là công trình nghỉ chân của người dân đi làm đồng. Quán thường xây dựng đơn sơ, chỉ có cột xây, không có tường bao. Tuy nhiên với sự nổi bật trên cánh đồng lúa, có khi có cây cao bên cạnh, quán trên cánh đồng trở thành một trong những hình ảnh đặc trưng về làng xã.

Điếm

Các điếm được xây dựng cạnh cổng để tiện cho việc trực đêm của tuần đinh (dạng đội tự vệ ) bảo vệ làng. Thường xây khá đơn giản, không có cửa.

Chợ

Trước đây do sản xuất tự cung tự cấp nên nhu cầu trao đổi hàng hóa không cao. Khoảng 4-7 làng có một chợ chung, họp theo phiên. Các chợ thường lập ở các trung tâm, đầu mối giao thông. Trong làng có thể có chợ nhỏ họp cạnh Đình, Chùa làng nên còn có tên gọi chợ Đình, chợ Chùa. Chợ họp theo phiên, đông đúc nhất vào buổi sáng, buổi chiều đã tan chợ.

 

Quán nước đầu làng

Vừa là nơi phục vụ, nơi nghỉ chân và cũng là nơi trao đổi thông tin, giao tiếp xã hội, thường hay đặt dưới gốc đa đầu làng.

Giếng làng

Hầu hết trong làng xóm trước đây đều dùng nước mặt thông qua ao làng, giếng làng. Làng xóm khuyến khích dùng ao chung để đảm bảo long mạch (thực chất là ý thức giữ gìn nguồn nước). Vùng bằng phẳng giếng làng thường rộng (đường kính 5-10m). Các làng vùng bán sơn địa giếng miệng hẹp và lòng sâu. Bề mặt giếng lát gạch hoặc lát đá. Làng Đường Lâm trước đây còn có

Giếng xóm Giang - Mông Phụ, Đường Lâm

Giếng xóm Giang – Mông Phụ, Đường Lâm

giếng tắm nam, tắm nữ riêng. Các giếng nước trong nhất của làng được chọn để lấy nước tế lễ hội đình. Nhiều giếng bên cạnh có bàn thờ (tục thờ nước). Làng Cam Lâm (Đường Lâm) có giếng Sữa, nước rất trong, truyền thuyết là phụ nữ đang nuôi con nhỏ mất sữa đến đây đặt lễ và lấy nước về uống sẽ có sữa trở lại.

Việc múc nước dùng gàu, thường là gàu bằng tre đan trát sơn ta. Gánh nước bằng thùng và đòn gánh.

Giếng thường đặt ở các vị trí có nước mặt, thuận tiện cho mọi người đến lấy nước, phân bố theo các khoảng cách đều giữa các xóm.

Ao làng

Ao làng Triều Khúc, Hà Nội

Ao làng Triều Khúc, Hà Nội

Ao làng thường đặt ở giữa làng, kề với đình, chùa với vai trò làm minh đường, cảnh quan cho đình, chùa. Cũng có khi đặt đầu làng là nơi rửa nông sản, nông cụ, rửa chân tay khi đi làm ruộng về.

Ao có dạng xây (hình tròn, vuông) hoặc bờ đất, hình thái tự do. Có nơi xây non bộ trên ao hoặc làm sân đấu vật giữa ao, mọi người ngồi xem xung quanh.

Mặt nước trong làng xã có vai trò lớn trong việc điều hòa khí hậu, thu gom nước và tạo cảnh quan làng.

Cầu

Cầu là công trình giao thông quan trọng bởi rất nhiều làng xã kề gần sông. Sông rộng thì có đò, sông nhỏ thì bắc cầu, cầu dạng cầu đá, hoặc cầu ngói (có mái). Loại hình công trình này còn rất hiếm. Cầu đá đẹp được nhiều người biết đến là cầu đá làng Nôm.

 

Nghĩa địa làng

Mỗi làng đều có nghĩa địa riêng đặt ngoài làng. Một số làng có tục lệ chôn ngay trên ruộng của gia đình, dòng họ. Đây là khu vực được coi trọng, những nhà khá giả rất chú trọng phong thủy của phần mộ. Việc chăm sóc mộ tổ cũng là trách nhiệm chung của dòng họ. Làng Đường Lâm truyền miệng câu bình về vị trí đặt mộ của dòng họ Phan “Đầu đội nhành quạt, chân đạp lý ngư – Thượng thư tổng đốc”.

 

Nhà ở

Nhà ở trong làng xã truyền thống Đồng bằng Bắc Bộ có nhiều giá trị về kiến trúc và tổ chức không gian ở.

Đất ở khuôn viên thường rộng khoảng 300-500m2, tuỳ theo từng khu vực.

Không gian nhà hướng nội, chỉ có một cổng nhỏ vào nhà, nhà không trổ cửa ra mặt đường.

Nhà có nhà chính, nhà phụ (bếp, nhà làm nghề thủ công), chuồng nuôi trâu bò, gia cầm) nhà vệ sinh (tách rời khỏi nhà chính), giếng, sân phơi và vườn nhỏ hoặc ao.

Nhà chính thường quay hướng Nam hoặc Đông Nam. Người dân thường có câu “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”. Có trồng cây chắn gió lạnh Đông Bắc: “Chuối sau, cau trước”.

Trong khuôn viên có cây xanh, cây ăn quả và vườn tạp trồng rau theo tính chất tự cung tự cấp.

Nhà bố trí theo gian, có loại 3 gian hoặc 5 gian. Thường có 2 chái thêm 2 đầu nhà. Gian giữa là để bàn thờ và tiếp khách, 2 bên là giường, các chái là kho hoặc phòng ngủ. Nhà thấp, cửa bức bàn có bậu, cửa mở rộng phía trước, hầu như không mở cửa sổ phía sau.

Nhà kiên cố là loại nhà khung gỗ, vách gỗ và xây gạch, mái lợp ngói. Nhà của người nghèo hơn là nhà xây bằng đất, mái lợp tranh tre. Về cấu trúc không có gì khác biệt.

gtclx_13

Nhà truyền thống tại xã Đường Lâm, Sơn Tây

Nhà truyền thống tại xã Đường Lâm, Sơn Tây

Cổng nhà:

Cổng nhà đặt về một bên khuôn viên, không đối dịên với cửa nhà, cổng thường nhỏ, chỉ cho trâu và người gánh lúa đi vừa.

Cổng nhà ở Đường Lâm

Cổng nhà ở Đường Lâm

Cây cổ thụ

Làng nào cũng có những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Phổ biến nhất là Đa, thường được trồng ở cổng làng, tạo dấu ấn từ xa hoặc gần đình,

chùa. Cây có tán rộng, râm mát rất thích hợp là nơi diễn ra các hoạt động của cộng đồng.

Làng Cam Lâm – Đường Lâm còn có rặng Duối gần ngàn tuổi, tương truyền là nơi buộc voi của Ngô Quyền.

Cây đa thôn Cổ Dương

Cây đa thôn Cổ Dương

Đồng ruộng, kênh mương ngoài làng

Các làng đều có ruộng bao quanh, ruộng đảm bảo cho sự tồn tại của một làng với việc cung cấp thực phẩm. Thóc lúa, tôm các từ ao hồ nuôi sống mọi thành viên trong làng xã. Nền kinh tế chủ yếu dạng tự cung tự cấp khép kín trong làng. Đây là thành phần quan trọng bởi nó đảm bảo cho sự tồn tại của làng, duy trì tính tự trị làng xã.

Các giá trị phi vật thể

Làng xã truyền thống là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Việt.

Đồng ruộng, kênh mương ngoài làng

Các làng đều có ruộng bao quanh, ruộng đảm bảo cho sự tồn tại của một làng với việc cung cấp thực phẩm. Thóc lúa, tôm các từ ao hồ nuôi sống mọi thành viên trong làng xã. Nền kinh tế chủ yếu dạng tự cung tự cấp khép kín trong làng. Đây là thành phần quan trọng bởi nó đảm bảo cho sự tồn tại của làng, duy trì tính tự trị làng xã.

gtclx_17

Các giá trị phi vật thể

Làng xã truyền thống là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Việt.

Lễ hội: Làng nào cũng có lễ hội. Hội đình, hội chùa. Phần lễ là việc rước lễ vật, lễ nghi cầu mong cho mùa màng, sự măy mắn thịnh vượng cho làng. Phần hội là các hoạt động vui chơi như đấu vật, đánh đu, đấu cờ, chọi gà… Hội làng không chỉ có ý nghĩa liên kết cộng đồng dân cư trong làng mà còn có ý nghĩa trong cả vùng như hội Đình Lệ Mật (Gia Lâm – Hà Nội) thờ Thành Hoàng của 13 làng ven Hồ Tây thời Lý, các làng đều mang lễ vật tới vào dịp hội. Có hội lớn thu hút cả vùng như hội cúng Thủy thần, chọi trâu Đồ Sơn – Hải Phòng, hội Đồng Kỵ (Hà Nội).Lễ hội làng do người dân tự tổ chức nên nó mang ý nghĩa xã hội với cộng đồng rất lớn.

Đấu vật và đấu cờ người trong lễ hội làng ở Đường Lâm

Đấu vật và đấu cờ người trong lễ hội làng ở Đường Lâm

Văn hóa biểu diễn: Nghệ thuật biểu diễn rối nước (rối nước Đông Anh), văn hóa quan họ, hát chèo thường có tính chất chung của văn hóa vùng ĐBSH.

Lề hội làng Khúc Thủy (Hà Nội)

Lề hội làng Khúc Thủy (Hà Nội)

Trò chuyện bên Đình làng Huyền Kỳ (Hà Nội)

Trò chuyện bên Đình làng Huyền Kỳ (Hà Nội)

Văn hóa ứng xử: Coi trọng tuổi tác, kính lão đắc thọ. Coi trọng quan hệ láng giềng “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, coi trọng quan hệ cộng đồng, đùm bọc lẫn nhau. Coi trọng đạo đức, nghĩa tình. Văn hóa nông thôn hiện nay vẫn là văn hóa chuẩn mực của người Việt. Về với làng xã ta còn cảm thấy rõ tình cảm của người dân rất chân thành, tốt bụng.

Văn hóa ẩm thực: Các làng xã cũng là nơi có văn hóa ẩm thực phong phú. Mỗi làng cũng thường có các món ăn, sản vật riêng. Ven Hà Nội có nhiều làng nổi tiếng như làng Vòng làm cốm, bún Phú Đô, Đường Lâm nổi tiếng với gà Mía, hay “nước giếng Hè, chè Cam Lâm”

Văn hóa văn bản: Các làng có hương ước quy định các luật lệ của làng, các bài văn câu đối (đề tại cổng làng) thể hiện quan điểm của người dân hoặc niềm tự hào với làng xã của mình, văn bia đá, khánh thể hiện các dấu ấn, ghi nhận quá trình phát triển của làng. Các phả hệ của các dòng họ cũng là những tư liệu quý giá.

Văn hóa truyền miệng: Bao gồm dân ca, ca dao, tục ngữ, câu truyền miệng, truyền thuyết. Với lịch sử lâu đời, nhiều làng có nhiều truyền thuyết rất hay về cách đối nhân xử thế, về các danh nhân, về lịch sử hình thành của làng. Làng cổ Đường Lâm nổi tiếng với nhiều truyền thuyết về các danh nhân như vua Phùng Hưng, Ngô Quyền, thám hoa Giang Văn Minh.

Nghề truyền thống: Nhiều làng truyền thống có nghề thủ công phát triển, cũng là một giá trị văn hóa cần giữ gìn. Thời phong kiến đã có nhiều làng xã ven thành Thăng Long có các nghề như làng Bưởi làm giấy, làng Nghi Tàm trồng cây cảnh, làng đào Nhật Tân, làng Định Công là kim hoàn, làng Vòng làm cốm, làng lụa Vạn Phúc, đúc đồng Ngũ Xã, gốm Bát Tràng… Các làng xa hơn nổi tiếng với các nghề như mộc Thiết Úng, cơ khí Vân Hà, bún Phú Đô. Nhiều nghề còn phát triển đến tận ngày nay như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc.

Tóm lại: Trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm tồn tại, ngôi làng đó chứa đựng trong nó bao nhiêu giá trị văn hóa, lịch sử. Bao nhiêu thế hệ người Việt đó sinh ra, lớn lờn trong làng. Tớnh tương đồng trong khu vực, tính bền vững cả về không gian vật thể và môi trường xó hội thật đáng kinh ngạc đối với một đơn vị cư trú vốn không lớn, nhỏ bé về quy mô và sức mạnh kinh tế, nhưng tổng hũa lại lại cú sức mạnh bền bỉ với thời gian. Phải chăng đây chớnh là một trong những mụ hỡnh phỏt triển bền vững mà cỏc mụ hỡnh cư trú hiện đại đang hướng tới.

Hy vọng những nét khái quát trên đây cho độc giả hỡnh dung một bức tranh làng xó tổng thể. Tuy nhiờn càng đi sâu vào chi tiết sẽ cũn càng thấy nhiều điều thú vị và để hiểu biết về làng xó chắc chắn sẽ cần học hỏi nhiều mà chỉ cú một tỡnh yờu làng quờ, một sự cảm nhận từ trỏi tim mới cú thể cho cho ta một khỏt khao hiểu biết và tiếp nhận.

                                                  Bài viết của: Phạm Hùng Cường

                                                   Năm 2015, biên tập lại năm 2016

Tài liệu tham khảo:

  1. Toan Ánh (1992). Làng xóm Việt Nam (nếp cũ). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Diệp Đình Hoa (2000). Người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  3. Trần Từ (1984). Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
  4. Phạm Hùng Cường (2009). Quy hoạch bảo tồn các làng cổ ở Đường Lâm. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 1 năm 2009.


BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC