Trung tâm tiểu vùng tại nông thôn ĐBSH – Mô hình kinh tế – Xã hội tạo điều kiện cho việc thu hút nguồn lực thị trường để phát triển nhanh và bền vững

Tác giả: TS. Phạm Đình Tuyển

Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng

( Bài viết được trích trong kỷ yếu hội thảo Quy hoạch làng xã nông thôn ĐBSH tầm nhìn 2030 theo hướng phát triển xanh, bền vững).

1.Bối cảnh chung

Kể từ thời điểm ra đời của Nghị quyết số 26-NQ-TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” (Hội nghị lần thứ bảy BCH TW khóa X ngày 5/8/2008) đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối và các chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Một trong những quan điểm chủ đạo trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2010-2020 trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư nông thôn.

Việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới không thể diễn ra theo một cách thức tương tự như nhau trong 7 vùng kinh tế trong cả nước, mà phải tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội của từng vùng.

Quy hoạch phát triển nông thôn tại tại Đồng bằng sông Hồng là khu vực xuất phát điểm so với khu vực đô thị có hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng còn thấp, kinh tế vẫn dựa vào việc khai thác tài nguyên và lao động giản đơn, hệ thống các đô thị huyện lỵ chủ yếu quy mô nhỏ, mật độ phát triển thưa, thì việc xây dựng nông thôn mới không thể nóng vội mà cần có bước đi thích hợp. Tuy nhiên không để tình trạng này kéo dài đạt đến ngưỡng mới thay đổi, cần phải có những mô hình có tính đột phá, đảm bảo phát triển nhanh và bền vững, là mô hình có khả năng nhân rộng;

Thay vì chỉ tập trung phát triển đô thị hoặc đầu tư phân tán trong các làng xã, mô hình Trung tâm tiểu vùng (hay trung tâm của một cụm 3- 6 xã, với bán kính phục vụ khoảng 1-5km) cho phép đầu tư phát triển nông thôn tại một số vùng, miền có hiệu quả hơn. Khái niệm về Trung tâm tiểu vùng không hoàn toàn mới. Đã có nhiều nghiên cứu và thực tế quy hoạch xây dựng nông thôn đã đề cập đến khái niệm về Trung tâm tiểu vùng (Trung tâm cụm xã), Trung tâm dịch vụ nông thôn…Tuy nhiên theo Quy chuẩn quy hoạch xây dựng Việt Nam, chỉ có các quy chuẩn quy hoạch xây dựng thị trấn (đô thị cấp V; IV) và xã. Các khái niệm về thị tứ, trung tâm tiểu vùng, trung tâm dịch vụ nông thôn vẫn chưa được thừa nhận.

2.Sự cần thiết của mô hình kinh tế – xã hội: Trung tâm tiểu vùng

Nông thôn Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt của sự thay đổi, thay đổi một cách toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, cốt lõi là sự thay đổi về con người, tổ chức và môi trường hoạt động của nó, hay nói cách khác là thay đổi toàn diện của xã hội nông thôn. Nguồn lực chính để tạo nên sự thay đổi đó là nguồn lực thị trường (Tài chính, công nghệ và nhân lực; Cơ chế và quản lý; Sáng tạo và văn hoá mới…)

Nguồn lực thị trường không thể nảy sinh từ nội tại khu vực nông thôn mà bắt nguồn chủ yếu từ khu vực đô thị và bên ngoài, nơi có mức độ phát triển kinh tế -xã hội cao hơn hẳn khu vực nông thôn. Nông thôn phải được quy hoạch nhằm thu hút và tiếp nhận có hiệu quả nguồn lực này để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, phát triển kinh tế tiêu dùng nông thôn và thị trường bất động sản tại nông thôn.

Các điểm dân cư nông thôn chính là bộ mặt của xã hội nông thôn. Việc bố trí các điểm dân cư nông thôn không phải chỉ là việc nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, mở rộng các khu dân cư…trong một xã cụ thể (theo yếu tố địa chính trị) mà còn phải hình thành mạng lưới dịch vụ sản xuất và dịch vụ môi trường; mạng lưới trường dạy nghề; mạng lưới y tế, mạng lưới tiêu dùng, mạng lưới an sinh xã hội – an ninh trật tự công cộng trong phạm vi toàn huyện (theo yếu tố địa kinh tế)…tạo thành xã hội nông thôn mới.

Huyện nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ có khoảng 20-25 xã, thị trấn. Cho dù nguồn lực thị trường tại khu vực đô thị và bên ngoài có lớn đến mấy cũng không thể “thấm” vào đến tận từng xã, đủ để tổ chức lại xã hội nông thôn, dù có 5 đến 10 năm nữa, đặc biệt là tại các xã nằm cách xa khu vực đô thị. Trong giai đoạn đầu, thay vì phân tán nguồn lực xã hội vào từng điểm dân cư hiện có của từng xã, cần tập trung  nguồn lực vào 4- 5 khu vực trung tâm mới của mỗi cụm 3-6 xã – được gọi là Trung tâm tiểu vùng. Từ đó làm động lực, điểm đột phá cho việc phát triển toàn bộ khu vực nông thôn.

3.Mô hình kinh tế – xã hội: Trung tâm tiểu vùng

a) Khái quát chung về mô hình kinh tế – xã hội: Trung tâm tiểu vùng

tttieuvung1

Trung tâm tiểu vùng, trước hết là mô hình phát triển kinh tế – xã hội tại khu vực nông thôn, là kết quả của mối quan hệ liên vùng, liên ngành, trước hết là mối tương  quan về kinh tế – xã hội với khu vực đô thị và bên ngoài. Việc quy hoạch xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng thể hiện rõ mối tương quan giữa các hoạt động kinh tế – xã hội với quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ phù hợp với thay đổi mới tại khu vực nông thôn: Thay đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp.

Trung tâm tiểu vùng là trung tâm về kinh tế – xã hội của một tiểu vùng, hay cụm khoảng 3-6 xã, với quy mô dân số của tiểu vùng (kể cả dân số Trung tâm tiểu vùng) khoảng  3- 5 vạn người. Một huyện có khoảng 20-25 xã, có thể có từ 4- 5 Trung tâm tiểu vùng, kể thị trấn huyện lỵ.

Trung tâm tiểu vùng là một dạng đô thị ban đầu của khu vực nông thôn, giúp làm tăng mật độ số đô thị/km2, qua đó làm giảm khoảng cách giữa các điểm dân cư nông thôn tới các đô thị, nơi có các hoạt động dịch vụ sản xuất, dịch vụ tiêu dùng cấp cao. Việc phát triển các Trung tâm tiểu vùng góp phần làm tăng mức độ đô thị hoá và tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam;

Việc phát triển Trung tâm tiểu vùng phù hợp với xu thế “phát triển cả trung tâm lẫn vùng ven”, tránh tình trạng phát triển một cực của mô hình thị trấn huyện lỵ hiện nay, tận dụng được cơ hội thu hút các nguồn lực thị trường tại nơi tiếp giáp với các khu vực phát triển cao bên ngoài huyện. Trong trường hợp này có thể nói Trung tâm tiểu vùng là không gian chuyển tiếp hay cầu nối giữa thị trường tại khu vực đô thị bên ngoài với các điểm dân cư nông thôn trong huyện;

Tại Trung tâm tiểu vùng có không gian để bố trí các KCN, cụm CN, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động cho cả cụm xã. Qua đó xoá bỏ được tình trạng xã nào cũng quy hoạch gắn thêm các XNCN, dẫn đến việc sử dụng đất không hiệu quả và khó quản lý về mặt môi trường. Đây là nơi thu hút các nhà đầu tư vào kinh doanh hệ thống hạ tầng kỹ thuật KCN, cụm CN; kinh doanh việc thu gom, bảo quản và phân phối các nông sản tươi cho khu vực đô thị; chế biến các sản phẩm nông nghiệp, qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá;

Tại Trung tâm tiểu vùng có các không gian bố trí công trình hoạt động dịch vụ phát triển sản xuất (ngân hàng, bảo hiểm, logistics…) và dịch vụ phát triển con người, đặc biệt là dịch vụ tiêu dùng, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt cấp cao cho người dân của toàn cụm xã, hình thành nên khu vực hay các tuyến phố sôi động, thu hút các nguồn lực thị trường vào kinh doanh các loại hình dịch vụ.

Hiện nay công trình phục vụ vui chơi giải trí cho tầng lớp thanh niên nông thôn hầu như không có, hoặc có tại khu vực đô thị song lại cách các điểm dân cư quá xa.. Trung tâm tiểu vùng không chỉ đáp ứng nhu cầu về việc làm cho thanh niên mà là nơi họ có thể đến sau thời gian làm việc để vui chơi với nhiều loại hình đa dạng và làm quen với lối sống của tương lai – lối sống đô thị. Trung tâm tiểu vùng là nơi bố trí trường phổ thông trung học, trường dạy nghề, phòng khám đa khoa cho cụm xã. Các hoạt động dịch vụ dịch vụ tiêu dùng, vui chơi giải trí hiện đại, đa dạng tại đây hình thành nên nhu cầu về tiêu dùng ngày càng cao (đặc biệt là đối với thế hệ thanh niên), trở thành động lực cho thanh niên khát khao làm giàu: Nhu cầu tiêu dùng – Phải sản xuất để có tiền thỏa mãn nhu cầu – Nhu cầu cao hơn – Sản xuất có hiệu quả hơn và quy mô lớn hơn…Thanh niên (được đào tạo) ở lại nông thôn, nông thôn sẽ phát triển;

Tại Trung tâm tiểu vùng có các không gian để bố trí các trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái cấp cao; hậu cần du lịch nhằm thu hút đầu tư và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên di tích, cảnh quan tự nhiên và văn hoá truyền thống tại cụm xã.

Trung tâm tiểu vùng là nơi bố trí các quỹ đất giãn dân của cụm xã; đất xây dựng nhà ở xã hội cho KCN, cụm CN nông thôn. Tại đây từng bước hình thành thị trường bất động sản nhà ở, qua đó thu hút nguồn lực đầu tư của thị trường bất động sản vào khu vực nông thôn;

Hoạt động công nghiệp, dịch vụ trong Trung tâm tiểu vùng góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động tại khu vực cụm xã và của toàn huyện; thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất; tạo nhiều việc làm phi nông nghiệp và có thu nhập hấp dẫn hơn hẳn so với thu nhập lao động nông nghiệp hiện nay, làm cho người nông dân “ly nông bất ly hương”;

Khu vực dân cư, dịch vụ trong Trung tâm tiểu vùng là một khu vực xây dựng hoàn toàn mới, không lệ thuộc vào cái cũ, như trong trường hợp quy hoạch mở rộng các điểm dân cư nông thôn hiện nay. Không gian mới này sẽ là môi trường thuận lợi cho việc hình thành một xã hội nông thôn mới, từ sự bận rộn, cách suy nghĩ, lối sống…của cá nhân đến sinh hoạt của cả một cộng đồng theo kiểu đô thị, thúc đẩy mong muốn sáng tạo, lan truyền tri thức công nghệ, khác hẳn với môi trường truyền thống (chủ yếu tôn trọng kinh nghiệm) tại làng xã.

Do quy mô không quá lớn nên Trung tâm tiểu vùng và các hoạt động xã hội – văn hoá trong nó có thể phát triển hài hoà với các điểm dân cư nông thôn truyền thống xung quanh, lan toả vào nhau, góp phần kế thừa và phát triển các nét đẹp của văn hoá truyền thống nông thôn. Với quy mô dân cư bằng một xã, mô hình Trung tâm tiểu vùng cho phép nhà quản lý và người dân địa phương với trình độ hiện tại có thể tiếp cận, dần làm chủ quá trình hình thành và phát triển nhân rộng mô hình này.

b) Trung tâm tiểu vùng theo hệ thống định cư: Trung tâm tiểu vùng là khu dân cư, dịch vụ đô thị và công nghiệp; Thị trấn huyện lỵ (đô thị loại V) có thể coi như là một dạng Trung tâm tiểu vùng. Như vậy Trung tâm tiểu vùng có hai dạng: Trung tâm tiểu vùng – thị trấn và Trung tâm tiểu vùng. Về lâu dài, khi được đầu tư xây dựng Trung tâm tiểu vùng – thị trấn có thể phát triển thành đô thị loại IV và các Trung tâm tiểu vùng khác có thể đạt được đô thị loại V- thị trấn.

c) Phân chia tiểu vùng và vị trí xây dựng Trung tâm tiểu vùng: Mỗi một tiểu vùng hay cụm xã gồm 3-6 xã với quy mô khoảng 2 đến 3 vạn dân; Thị trấn huyện lỵ và các xã xung quanh là tiểu vùng được xác định đầu tiên, là cơ sở cho việc phân chia các tiểu vùng khác trong huyện; Việc phân chia các tiểu vùng được xuất phát theo nguyên tắc phân bố đồng đều nguồn lực. Trên cơ sở phạm vi của tiểu vùng, lựa chọn địa điểm bố trí Trung tâm tiểu vùng; Việc lựa chọn vị trí xây dựng Trung tâm tiểu vùng (ngoài Trung tâm tiểu vùng là thị trấn huyện lỵ) xuất phát theo nguyên tắc thu hút tối đa các nguồn lực thị trường và đảm bảo bán kính phục vụ tới các xã.

d) Các hoạt động kinh tế – xã hội trong Trung tâm tiểu vùng:

TT Loại Tại Trung tâm

tiểu vùng

Tại các khu vực đô thị bên ngoài Tại điểm dân cư nông thôn
1 Các hoạt động sản xuất      
1.1 Hoạt động công nghiệp
Quy mô KCN, cụm CN quy mô nhỏ KCN tập trung quy mô TB và lớn
Tính chất Ưu tiên cho loại hình CN chế biến nông sản và tận dụng lao động Đa ngành, đa lĩnh vực Chủ yếu tận dụng lao động
1.2 Hoạt động dịch vụ
Dịch vụ phát triển sản xuất nông nghiệp Có nhiều cơ hội phát triển
Dịch vụ phát triển con người Quy mô phục vụ cho khu vực thị trường với số dân khoảng 3-4 vạn người Phát triển vì khu vực thị trường rộng lớn với số dân lớn Không phát triển do thị trường quá nhỏ với số dân khoảng 0,6 vạn người.
Dịch vụ du lịch Có cơ hội phát triển
Dịch vụ bất động sản Có cơ hội phát triển Phát triển Không phát triển
2 Hoạt động ở      
2.1 Loại hình nhà ở
Nhà ở biệt thự, nhà ở có vườn Phát triển Phát triển Phát triển
Nhà liên kế kết kết hợp dịch vụ Có cơ hội phát triển Phát triển Có cơ hội phát triển
Nhà chung cư – nhà ở xã hội Có cơ hội phát triển Phát triển Không phát triển
Nhà nghỉ cuối tuần Có cơ hội phát triển Phát triển Có cơ hội phát triển
3 Thời gian hoạt động kinh tế      
Thời gian trong ngày Phần lớn thời gian Phần lớn thời gian Không hoạt động vào ban đêm,
Ngày nghỉ, ngày lễ Cả ngày nghỉ, ngày lễ (dịch vụ) Cả ngày nghỉ, ngày lễ (dịch vụ)
4 Khả năng thu hút đầu tư phát triển Có cơ hội phát triển Ít có cơ hội hơn
5 Triển vọng trong tương lai Phụ thuộc vào sự phát triển của khu vực đô thị và bên ngoài    

e) Quy mô dân số và cơ cấu lao động: Với quy mô khoảng 0,6- 1 vạn dân, tương đương với nhu cầu dân số tăng cơ học của cụm xã trong vòng 10 năm và phù hợp với nguyên tắc của một “đơn vị phát triển”. Cơ cấu lao động và việc làm tại Trung tâm tiểu vùng phải gánh được tỷ trọng cơ cấu lao động và việc làm của cụm xã. Trong đó việc làm phi nông nghiệp sẽ tập trung chủ yếu tại Trung tâm tiểu vùng.

f) Các khu vực chức năng trong Trung tâm tiểu vùng:

– Khu vực dân dụng hay khu vực dân cư, gồm:

Các khu vực xây dựng công trình dịch vụ phát triển sản xuất và dịch vụ phát triển con người: Đất xây dựng các công trình dịch vụ sản xuất có thể bố trí trong khu dân dụng hoặc nằm bên ngoài khu dân dụng (trong các KCN, cụm CN); Đất xây dựng các công trình dịch vụ phát triển con người tương đương với loại đất xây dựng các công trình dịch vụ đô thị trong quy hoạch xây dựng đô thị, được phân thành: Đất xây dựng công trình dịch vụ cho bản thân Trung tâm tiểu vùng (tính toán theo quy mô dân số của Trung tâm tiểu vùng); Đất xây dựng công trình dịch vụ cho dân cư của tiểu vùng (cụm 3-6 xã).

Các khu vực xây dựng nhà ở cho dân cư của Trung tâm tiểu vùng;

Các khu vực xây dựng các khu cây xanh công viên, vườn hoa;

Các khu xây dựng công trình hành chính ngoài cấp quản lý hành chính của Trung tâm tiểu vùng có vai trò là thị trấn huyện lỵ;

Trường dạy nghề và các khu vực chức năng khác.

Do tỷ trọng tương đối lớn của quỹ đất bố trí công trình dịch vụ, khu vực dân dụng của Trung tâm tiểu vùng còn được gọi là Khu dân cư, dịch vụ.

– Khu vực ngoài dân dụng, gồm: KCN, cụm CN và các XNCN bố trí riêng lẻ;  Khu vực trang trại kết hợp dịch vụ du lịch; Khu vực xây dựng các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật và các khu vực chức năng khác.

Khu dân dụng hay khu dân cư, dịch vụ là khu vực chức năng cơ bản của Trung tâm tiểu vùng. Khu vực ngoài dân dụng là khu vực chức năng mở rộng. Trong trường hợp Trung tâm tiểu vùng chỉ có chức năng cơ bản là khu dân dụng (chủ yếu cho hoạt động dịch vụ và ở) thì Trung tâm tiểu vùng có thể gọi là Trung tâm dịch vụ nông thôn cho một cụm xã.

g) Quy mô đất đai Trung tâm tiểu vùng: có thể tham khảo theo bảng sau:

TT Loại đất Cấp phục vụ Diện tích (ha)
Với số dân 1 vạn người Với số dân 0,8 vạn người Với số dân 0,6 vạn người
A Đất ngoài dân dụng     40 40
1 Đất cụm CN, TTCN 40 40
2 Đất ngoài dân dụng khác
B Đất dân dụng   81,56 68,91 57,21
1 Đất công trình dịch vụ   13,06 11,41 10,11
1.1 Đất công trình hành chính các cấp 0 0 0
1.2 Đất giáo dục 6,16 4,93 3,91
Trường mẫu giáo TTTV 0,75 0,60 0,45
Trường tiểu học TTTV 0,98 0,78 0,63
Trường trung học cơ sở TTTV 0,83 0,66 0,53
Trưòng trung học phổ thông Tiểu vùng 1,8 1,44 1,15
Trường dạy nghề Tiểu vùng 1,8 1,44 1,15
1.3 Đất y tế 0,40 0,39 0,38
Trạm y tế TTTV 0,05 0,05 0,05
Phòng khám đa khoa Tiểu vùng 0,3 0,3 0,3
Nhà hộ sinh Tiểu vùng 0,045 0,04 0,03
1.4 Thể dục thể thao 3,00 2,90 2,82
Sân luyện tập TTTV 0,5 0,40 0,32
Sân vận động Tiểu vùng 2,5 2,5 2,5
1.5 Nhà văn hóa trung tâm tiểu vùng Tiểu vùng 1,5 1,2 1,0
1.6 Chợ 1,00 1,00 1,00
Chợ dân sinh TTTV 0,2 0,2 0,2
Chợ đầu mối Tiểu vùng 0,8 0,8 0,8
1.7 Các công trình dịch vụ khác Tiểu vùng 1,0 1,0 1,0
2 Đất xây dựng nhóm nhà ở   40 32 24
3 Đất cây xanh sử dụng công cộng   14,00 13,60 13,28
Đất cây xanh vườn dạo TTTV 2,00 1,60 1,28
Đất cây xanh công viên Tiểu vùng 12,00 12,00 12,00
4 Đất giao thông chính Tiểu vùng 13,00 10,40 8,32
Bãi đỗ xe, trạm xăng 1,00 0,80 0,64
Đất đường giao thông chính 12,00 9,60 7,68
5 Đất XD công trình đầu mối HTKT   1,50 1,50 1,50
5.1 Trạm cấp nước 0,50 0,50 0,50
5.1 Trạm xử lý nước thải 1,00 1,00 1,00

Như vậy, ví dụ với quy mô dân số khoảng 0,6 vạn người, Trung tâm tiểu vùng có quy mô khoảng 60ha, nếu kể cả đất công nghiệp khoảng 40 ha, thì Trung tâm tiểu vùng mở rộng có quy mô khoảng 100 ha.

h) Đầu tư xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng:

– Thu hút nguồn vốn đầu tư: Việc thu hút nguồn vốn đầu tư liên quan đến thị trường bất động sản trong khu vực và các dự án khởi đầu trong khu vực như sự xuất hiện các KCN, cụm CN nông thôn tại Trung tâm tiểu vùng; Cơ sở đào tạo dạy nghề; Chợ đầu mối; Trung tâm dịch vụ du lịch; Bến xe khách liên tỉnh, huyện và các dự án xây dựng mở rộng các tuyến đường chính đi qua khu vực;…

– Tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng: Huyện là đầu mối tổ chức thực hiện xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng. Việc thực hiện dự án trong Trung tâm tiểu vùng không chỉ bao gồm các nhà đầu tư từ bên ngoài, mà còn từ các tổ chức của Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể của người dân địa phương.

i) Quản lý hành chính Trung tâm tiểu vùng:

–  Đối với Trung tâm tiểu vùng – thị trấn:  không thay đổi theo hiện tại. Thị trấn có cơ quan quản lý hành chính riêng, như cấp xã. Trong tương lai khi mở rộng thành đô thị loại IV thì sẽ có thểm cơ quan quản lý cấp phường như trong các đô thị.

– Đối với Trung tâm tiểu vùng: tại giai đoạn đầu khi Trung tâm tiểu vùng chưa đạt tới quy mô dân số như quy hoạch, thì khu vực dân cư trong Trung tâm tiểu vùng thuộc xã nào sẽ do xã đó quản lý về mặt nhân khẩu. Trong giai đoạn kết thúc xây dựng, Trung tâm tiểu vùng trở thành một thị trấn trên cơ sở chia tách xã và thiết lập bộ máy hành chính quản lý riêng cho Trung tâm tiểu vùng.

k) Hệ thống mạng lưới Trung tâm tiểu vùng:

Một huyện có nhiều Trung tâm tiểu vùng, song các trung tâm này không phát triển đồng đều, do điều kiện phát triển kinh tế – xã hội tại từng cụm xã hết sức khác nhau. Các Trung tâm tiểu vùng xây dựng trước tại địa điểm thuận lợi, sẽ là hình mẫu, động lực để phát triển các Trung tâm tiểu vùng khác. Những Trung tâm tiểu vùng sau do có kinh nghiệm sẽ phát triển nhanh hơn.

Các Trung tâm tiểu vùng được liên hệ với nhau qua đó tạo mối liên kết thành một hệ thống mạng lưới, không chỉ về dân cư, về giao thông mà còn hình thành mạng lưới về dịch vụ sản xuất (về thị trường, trao đổi thông tin, tiêu thụ sản phẩm…); mạng lưới trường dạy nghề; mạng lưới y tế, mạng lưới tiêu dùng, mạng lưới dịch vụ du lịch…Các tuyến đường giao thông chính trong huyện cần phải nối liền các Trung tâm tiểu vùng.

Trung tâm tiểu vùng được xây dựng không phải để thay thế trung tâm của các xã. Trung tâm xã vẫn đóng vai trò là trung tâm hành chính, quản lý, văn hóa của xã, nơi cung cấp các dịch vụ hàng ngày như với bán kính phục vụ 400-500m. Các trung tâm xã cần được nối với Trung tâm tiểu vùng và Trung tâm tiểu vùng – huyện lỵ, bằng hệ thống giao thông thuận tiện, qua đó có thể hỗ trợ nhau tạo thành một hệ thống mạng lưới về dân cư, hoạt động kinh tế và xã hội trong toàn khu vực nông thôn.

l) Trung tâm tiểu vùng và vấn đề gắn kết giữa quy hoạch phát triển nông thôn với phát triển đô thị và bố trí điểm dân cư nông thôn:

Trung tâm tiểu vùng với các hoạt động kinh tế và xã hội đã nêu tại phần trên, có thể nói đã trở thành hạt nhân, chất kết dính cho sự gắn kết giữa phát triển nông thôn với phát triển đô thị và điểm dân cư nông thôn, thể hiện ở: Gắn kết giữa Trung tâm tiểu vùng với các khu vực đô thị bên ngoài; Gắn kết giữa Trung tâm tiểu vùng với các điểm dân cư nông thôn; Gắn kết của chính các Trung tâm tiểu vùng với nhau; Gắn kết giữa Trung tâm tiểu vùng với quy hoạch phát triển nông thôn:

Loại Tầm quan trọng của phát triển và bố trí

Trung tâm tiểu vùng với phát triển nông thôn và

gắn kết với quy hoạch phát triển nông thôn

1 Gắn kết có tính chiến lược Là hệ thống không gian hay mạng lưới sản xuất công nghiệp, mạng lưới dịch vụ thu gom, chế biến nông sản, thông tin thị trường; mạng lưới dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ y tế, đào tạo nghề, an sinh xã hội chủ yếu tại khu vực nông thôn; Là cộng đồng dân cư với văn hoá mới tại khu vực n ng thôn; Quy hoạch phát triển nông thôn phải gắn kết chiến lược với phát triển và bố trí Trung tâm tiểu vùng.
2 Về hệ thống giao thông Hệ thống giao thông xuyên tâm và dạng vòng liên kết hệ thống Trung tâm tiểu vùng là hệ thống giao thông cốt lõi của của khu vực nông thôn.
3 Về hoạt động kinh tế Là cơ sở cho việc tính toán chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tạo việc làm cho toàn huyện; Tạo ra cơ hội cho việc phát triển kinh tế qua khả năng thu hút các nguồn lực thị trường; Lồng ghép được các chương trình phát triển nông thôn hiện nay.
4 Về măt môi trường Giảm thiểu các tác động về môi trường của các KCN, cụm CN
5 Về xã hội và văn hóa Đóng góp tích cực vào việc phát triển con người và tạo lập môi trường văn hóa mới cho thanh niên; Trở thành một bộ phận xã hội nông thôn Việt Nam
6 Mối quan hệ về mặt quy hoạch xây dựng Là cơ sở cho việc quy hoạch xây dựng phát triển không gian và hạ tầng kỹ thuật toàn bộ khu vực nông thôn.
7 Mối quan hệ trong tương lai Cùng với thị trấn, điểm dân cư nông thôn tạo thành mô hình địa kinh tế 3 cấp tại khu vực nông thôn; Có tương lai phát triển lâu dài

Với vai trò quan trọng có tính chiến lược của Trung tâm tiểu vùng trong việc thu hút nguồn lực thị trường và tổ chức lại xã hội nông thôn, quan điểm về: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí điểm dân cư nông thôn trong giai đoạn hiện nay có thể trình bày dưới một cách khác: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển và bố trí Trung tâm tiểu vùng nhằm thu hút các nguồn lực thị trường và tổ chức lại xã hội nông thôn, theo quy luật của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Hệ thống Trung tâm tiểu vùng với quy mô dân số khoảng 20-25% toàn huyện khi được đầu tư xây dựng sẽ đóng góp tích cực vào việc thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.

4.Kết luận

Trung tâm tiểu vùng là mô hình kinh tế – xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay và lâu dài tại các huyện vùng Đồng bằng sông Hồng; Có khả năng đáp ứng đồng thời nhu cầu của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân địa phương; Tạo điều kiện cho việc thu hút các nguồn lực thị trường; Cho phép lồng ghép nhiều chương trình phát triển nông thôn; Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, và tạo việc làm; Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Đóng góp tích cực cho việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Là cơ sở cho quá trình đô thị hoá tại khu vực nông thôn; Thúc đẩy việc xây dựng xã hội mới trong khu vực nông thôn.

Một Trung tâm tiểu vùng sẽ có ít ý nghĩa, nhưng khi nhân rộng các mô hình Trung tâm tiểu vùng (về thể chế, về hoạt động kinh tế, về không gian, về khả năng tham gia của người dân và quản lý địa phương…) sẽ tạo ra phản ứng dây chuyền. Đến quy mô và phân bố nhất định sẽ dần tạo ra mạng lưới mới, cao cấp hơn hiện tại: mạng lưới dịch vụ sản xuất và môi trường; mạng lưới dịch vụ du lịch; mạng lưới trường dạy nghề; mạng lưới y tế, mạng lưới tiêu dùng, mạng lưới an sinh xã hội – an ninh trật tự công cộng..; thâm nhập vào toàn bộ khu vực nông thôn, nơi văn hoá của nền kinh tế tiểu nông đã từ lâu bám rễ, trở thành động lực để hình thành một xã hội nông thôn mới, qua đó làm nông thôn thực sự thay đổi.

Tài liệu tham khảo chính:

  1. Nghị quyết số 26 – NQ/T.Ư ngày 5/8/2008, tại Hội nghị lần thứ bảy BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
  2. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; tháng 1/2011;
  3. Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
  4. Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
  5. Quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng – Bộ KHCN và MT; Chương trình phát triển Liên hiệp quốc; Ngân hàng thế giới, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật 1995;
  6. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng QCXDVN 01: 2008/BXD;
  7. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn QCVN 14: 2009/BXD;
  8. Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. PGS. TS. Đỗ Hoài Nam; TS. Lê Cao Đoàn- Trung tâm Khoa học và Xã hội Nhân văn Quốc gia- Viện Kinh tế học – Nhà xuất bản KH và XH – 2001;
  9. Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Chính phủ về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn giai đoạn 2011 – 2020;
  10. Quy hoạch xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng các huyện Trung du. Ứng dụng quy hoạch một trung tâm tiểu vùng huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (Mã số: B2009-03-69-TĐ; Cấp quản lý: Trường Đại học Xây dựng; Thời gian thực hiện 30/06/2009 đến 30/06/2011; Chủ trì: TS. Phạm Đình Tuyển

 

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC