Di sản làng Việt là tiềm năng văn hóa to lớn. Cần biến tiềm năng đó thành nguồn lực để phát triển nông thôn Việt Nam bền vững và giàu bản sắc.

Di sản làng Việt là tiềm năng văn hóa to lớn. Cần biến tiềm năng đó thành nguồn lực để phát triển nông thôn Việt Nam bền vững và giàu bản sắc.

Làng Diềm (Bắc Ninh) - DI SẢN TRUYỀN THỐNG LÀNG DIỀM

 

 Thống kê di sản kiến trúc

Di tích đã được xếp hạng
   -  Đình làng Diềm
   -  Nhà thờ Vua Bà, Thủy tổ quan họ
   -  Đền Cùng, Giếng Ngọc
Di sản chưa được xếp hạng
   -  Chùa Hưng Long
   -  Nhà chứa quan họ
   -  Nhà chứa cụ Khu
   -  Miếu thôn
   -  Chó đá
 
Đình Diềm
 
Đình Diềm
 
Theo thần phả của làng và một số câu đối trong đình còn ghi lại, đình Diềm được xây dựng vào cuối thế kỷ 17 để thờ Đức thánh Tam Giang (như mọi làng quê ven sông Cầu), dân làng vẫn lấy năm Nhâm Thân 1692 (năm dựng mái) làm năm xây đình. Kiến trúc đình Diềm xưa tuân thủ theo kiến trúc truyền thống của Việt Nam, có nhà tiền tế, có đại đình, ngoài gian giữa có chạm những hình rồng và mây nét mác, tất cả mọi thành phần của khung nhà đều bào trơn đóng bén, soi gờ chỉ chạy thẳng. Đình Diềm xưa khá bề thế, gồm 3 gian hai chái khép kín thành một chỉnh thể thống nhất và hài hòa. Sau này do chiến tranh, nhiều kiến trúc độc đáo đã bị phá huỷ, hiện đình chỉ còn 1 gian 2 chái. Ngay từ năm 1964, đình Diềm đã được Nhà nước ta công nhận danh hiệu di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. 
 
Đền thờ Vua Bà - Thủy tổ dân ca quan họ Bắc Ninh
 
Đền thờ Vua Bà - Thủy tổ dân ca quan họ Bắc Ninh
 
Đền thờ Đức Vua Bà - thủy tổ quan họ tọa lạc trên Khu đất ngã tư giữa hai trục đường làng  - từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc. Phía Đông cách Đình Diềm 100m, Phía Tây cách một mặt đường là Chùa Hưng Sơn Tự. Đền được dựng ở Xóm Đền (xóm Chùa) theo hướng Tây, nhìn ra sông Cầu, gồm hai công trình chính là toàn tiền tế và hậu cung.
Năm 2001, Đền thờ Vua Bà được tôn tạo, nâng cấp, quy mô được mở rộng thêm thành một hậu bầu, một tiền tế ba gian hai trái, khung gỗ lim và mặt tiền Đền được đổi thành hướng Nam.
 
Đền Cùng - Giếng Ngọc
 
Đền Cùng - Giếng Ngọc
 
Đền Cùng, còn gọi là đền Giếng, thuộc thôn Viêm Xá (tục gọi làng Diềm), xã Hoà Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Tục truyền, đền thờ Bà Chúa Giếng linh thiêng nổi tiếng. Đền nằm ở đầu làng Diềm - một làng Việt cổ, nằm dưới chân núi Quả Cảm (còn gọi là núi Kim Lĩnh hoặc núi Thiếp, ngọn núi có hình thế đẹp, được ví như một con rồng đang vùng vẫy giữa một vùng bờ bãi sông nước).
Quần thể di tích đền Cùng hiện nay là những công trình kiến trúc bao gồm: Toà chính đền (phía trước có giếng Ngọc) thờ “Bà Chúa Giếng”, bên phải là 1 gian thờ “các quan”, bên trái là nhà thờ “Mẫu Tam phủ”. Trong khuôn viên của đền vẫn còn nguyên “Cầu đền” - ngôi nhà 3 gian lợp ngói, có cột đá ghi thời điểm dựng nhà cùng với hậu cung đền cũ - năm Bảo Thái thứ 7 (1726). Trong khuôn viên đền còn có nhà khách, nhà bia (đều mới xây dựng), những cây cổ thụ (đa, duối, cườm cườm)...
 
Chùa Hưng - Sơn - Tự
 
Theo lời kể của các cụ già trong làng và những dấu vết để lại thì quy mô của chùa Diềm rất lớn, có kết cấu mặt bằng kiến trúc theo hình nội công ngoại quốc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, với sự tàn phá của thiên nhiên và con người, chùa Diềm ngày nay là một quần thể kiến trúc nhỏ với mặt bằng chính theo hình chữ Đinh. Cổng chùa hiện nay cũng là một trong hai cổng làng còn được lưu giữ lại. Cổng được trùng tu xây dựng lại từ những năm 1940.
Tương truyền trước đây chùa có trăm gian, tường chùa xây toàn bằng đá. Đôi câu đối còn lại ở chùa này đã ghi lại cảnh đẹp của làng Diềm xưa:
Thạch tai Hưng Sơn thành rác ngạn
Xá hòa phong cảnh đắc viên hoa.
Dịch ý:
Đá chùa Hưng Sơn thành bờ rác ngõ,
Làng chan hòa phong cảnh đẹp như vườn hoa.
Chùa Diềm có khá nhiều tượng, trong đó đa phần có niên đại khá sớm khoảng thế kỷ XVII-XVIII với kỹ thuật tạo tác tinh xảo, giá trị nghệ thuật cao.
 
Nghè Quan Đô Thống
 
 
Nhà chứa quan họ
 
 
Nhà chứa quan họ được xây dựng trên khuôn viên của trường Mầm Non cũ. Hiện nay trong khuôn viên nhà chứa là Nhà Văn Hóa thôn. Nhà chứa hiện nay là một địa điểm quan trọng nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản Quan Họ trong đời sống hiện đại. 
Các điếm, cổng xóm
Các cổng
Làng Hiện nay vẫn còn 2 cổng, được xây dựng vào thời gian năm 1946 dựa trên vị trí và hình dáng của các cổng cũ. 
Cổng Phía Đình là cổng chính.
 
Cổng chính làng Viêm Xá
 
Cổng phía chùa là Cổng phụ, hiện nay khuôn viên chùa đã được mở rộng và sử dụng cổng làng làm cổng Chùa. 
 
Cổng phụ làng Viêm Xá
 
Miếu
Được chăm nom, thờ phụng chu đáo. Hiện nay miếu vẫn phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân xóm thường xuyên. 
 
Điếm
Trước đây mỗi thôn đều có một điếm riêng, là nơi canh gác, bảo vệ làng. Hiện nay các điếm đã chuyển thành nhà ở. Vị trí các điếm cũ được xác định lại theo trí nhớ cũng các bậc cao niên trong làng Xem phụ lục bản đồ. 
 
Nhà cổ
Hiện nay, trong làng có mốt số nhà lưu giữ được khung nhà bằng gỗ. Trong đó có nhà cụ Hoạch tại Xóm ...., còn lưu giữ được một bộ khung nhà gỗ 3 gian hàng trăm năm tuổi. Theo dân làng kể lại, bộ khung nhà này có từ trước khi xây đình làng Diềm, nguyên là gia đình mua gỗ về với ý định cúng tiến xây đình làng, nhưng do kích thước gỗ chưa phù hợp nên chuyển sang làm nhà ở. Đây là một trong những bộ khung nhà gỗ cổ nhất tại vùng đồng bằng sông Hồng. Nhà đã trải qua nhiều đợt tu sửa lớn, nhưng bộ khung nhà vẫn còn tương đối hoàn chỉnh. 4 cột cái ở gian chính giữa có đường kính khoảng 45 cm. Toàn bộ hệ khung nhà được trạm trổ tinh xảo, trạm lộng, trải qua hơn 300 năm tuổi, đường nét trang trí vẫn sắc nét.
Làng Diềm là làng quan họ cổ, kiến trúc nhà ở của làng đồng thời cũng là kiến trúc “nhà chứa“ quan họ. Trong làng còn lưu giữ được nhà chứa Quan họ duy nhất ở vùng Kinh Bắc hiện nay vẫn còn giữ được nguyên nếp nhà cổ, nhà của nghệ nhân quan họ Ngô Thị Khu tại xóm Giữa. Khi xưa, ngôi nhà rộng 9 gian, toàn bộ đều bằng gỗ, cửa bức bàn to đẹp với hiên nhà xây thấp. Trải qua thời gian biến đổi lịch sử, thời tiết, mưa nắng, lũ lụt, căn nhà xuống cấp nên con cháu sửa sang, thu hẹp lại còn 5 gian rồi nay chỉ còn 3 gian. Nhưng mọi chi tiết, hoa văn chạm trổ trên các hoành kèo, cột nhà, bộ hoành phi, câu đối cơ bản vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Dưới chân mỗi chiếc cột đều được chôn một bệ đá, các bậc thềm bước lên nhà cũng vẫn còn những tảng đá hình khối được ghép lại với nhau. Dù có bị thu nhỏ dần theo năm tháng nhưng suốt cả trăm năm nay, ngôi nhà chứa của gia đình cụ Khu vẫn luôn rộng cửa đón tiếp Quan họ làng bạn sang chơi và là nơi lui tới của các liền anh, liền chị trong thôn xóm đến luyện tập và hát canh Quan họ.
Các nghệ nhân cao tuổi ở làng Diềm cho biết, xưa mỗi bọn Quan họ có một nhà chứa, có nhà chứa dành riêng cho liền anh và riêng cho liền chị. Cả làng có khoảng 19-20 nhà chứa Quan họ nhưng nay chỉ duy nhất còn nhà cụ Khu nên các nghệ nhân cao niên vẫn thường về đây “hồi cố” một thời học hát Quan họ. Thời gian qua, ngành văn hóa có đề nghị gia đình cụ Khu cho phép để đầu tư sửa sang lại ngôi nhà để làm nhà chứa quan họ cộng đồng, nhưng cụ Khu chưa đồng ý. Hiện nay, làng đã được đầu tư xây dựng mà khu nhà chứa quan họ mới, cũng là nhà văn hóa của làng. Ngôi nhà chứa cổ của nghệ nhân Ngô Thị Khu đã vắng tiếng hát của bọn quan họ, nhưng những giá trị văn hóa trường tồn qua hàng trăm năm vẫn mãi mãi cần được trân trọng giữ gìn. 
 
Chó đá
Chó đá là linh vật thường được thấy ở mỗi gia đình trong làng. Chó đá có kích thước khoảng 25-30, được đặt trước cổng, thường hướng vào phía cửa nhà hoặc hướng ra ngoài đường. Bên cạnh hoặc trước mặt chó đá có lỗ để cắm hương, nhang. 
Hiện nay cho đá không có nhiều giá trị trong đời sống hiện tại, gây cản trở giao thông nên một số bị bỏ đi, số khác làm được lấp lên một phần.
Những linh vật tại các vị trí quan trọng như cổng làng, điểm trấn yểm trong làng đặc biệt hơn khi có mắt, mũi. 
Chó đá
 

Cảnh quan tổ hợp trung tâm văn hóa làng

Gồm có: Đình Diềm, Đền thờ Vua bà, nhà chứa quan họ, Hưng Sơn tự, Đền Cùng GIếng Ngọc, cổng làng, ao làng. 
 
 
Cảnh quan khu vực đình
Tổ hợp không gian cảnh quan Đình được cấu thành từ các yêu tố chợ làng, ao đình tạo nên sức sống cho không gian. Trước đây ao đình là sân thể thao hiện nay. Trong khoảng năm 1975 đến năm 1976 ao đình được lấp, thay vào đó là ao làng hiện nay. 
Dòng sông Cầu ôm gọn cả xã Hòa Long, bắt đầu từ làng Diềm, kéo dài đến tận con đường quốc lộ vượt qua cầu dẫn lên các tỉnh phía Bắc. Đó chính là nơi đã diễn ra trận tử chiến giữa quân dân ta với quân binh nhà Tống (năm 1077), do Tướng quân Lý Thường Kiệt chỉ huy. Đoạn sông Cầu cắt ngang con đường này nổi tiếng với cái tên sông Như Nguyệt, cửa ải phòng ngự đầu tiên mà triều đình nhà Lý dựng chiến lũy, chặn quân Tống tiến xuống thành Thăng Long. Khi quân nhà Tống rồng rắn, hùng hổ từ Lạng Sơn kéo xuống, gặp trở ngại khi tới sông Như Nguyệt thì không có cầu dẫn sang. Chúng phải dừng chân bên kia sông đối diện với tuyến phòng thủ của quân dân ta. Một phần vì mệt mỏi vì cuộc hành quân kéo dài hơn mười ngày mới tới bên sông. Một phần chúng chờ cho lực lượng thủy quân đánh từ biển phía Đông tiến vào. Cả hai lực lượng sẽ kết hợp đánh lên bờ chiếm lĩnh con đường dẫn về thành Thăng Long. Đây là lần thứ hai, quân Tống tiến đánh nước ta với âm mưu bắt sống Vua Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan và Tướng quân Lý Thường Kiệt...
Để nâng cao ý chí chiến đấu, đánh dập mũi tiên phong của quân Tống bên kia bờ sông Như Nguyệt, Tướng quân Lý Thường Kiệt một mặt điều quân đánh chặn tiêu diệt những chiến thuyền quân Tống ngay từ cửa biển, còn một mặt điều 400 chiến thuyền, nửa đêm bí mật vượt sông đánh thẳng vào cụm quân của tướng Quách Quỳ chỉ huy quân Tống. Điểm xuất phát là bến sông ở làng Diềm. Trước khi vượt sông, Tướng quân Lý Thường Kiệt cho người vào đình làng Diềm để lễ cầu chiến thắng. Sau đó, Tướng quân cho ngâm bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” để khích lệ tinh thần binh sĩ trước khi xung trận. Tiếng loa âm vang với những lời hịch hào sảng, tạo nên hùng khí trào dâng trong từng huyết quản của mỗi chiến sĩ. Lời thơ hừng hực khí thế chiến đấu: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở. Rành rành ghi rõ ở sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Bài thơ chỉ có bốn câu, nhưng là tiếng kèn hiệu lệnh linh thiêng của Tổ quốc, tạo nên sức mạnh kỳ lạ. Đêm ấy hai mũi quân vượt sông, tiến đánh như thần chớp tiêu diệt những trại lính trọng yếu của Chủ tướng Quách Quỳ và Phó tướng Triệu Tiết. Quân Tống thế cùng lực kiệt, lần thứ hai thảm bại phải nhận thế chủ động giảng hòa của Lý Thường Kiệt để giữ thể diện rút quân về nước.
Đền đình làng Diềm được coi là một dấu ấn thiêng liêng, là nơi cất lên tiếng ca khải hoàn đầu tiên trong chiến thắng giặc Tống vào một đêm tháng 3/1077. Chính vì thế mà dân gian xưa đã ghi nhận sự vẻ vang của đình làng Diềm trong công cuộc kháng Tống rằng: “Thứ nhất là đình Đông Khang. Thứ nhì đình Bảng. Vẻ vang đình Diềm”. Lễ hội năm nào ở cửa đình cũng căng biển lớn với bốn chữ “Vẻ vang đình Diềm” để nhắc nhớ đến bài thơ của Lý Thường Kiệt đã vang lên từ nơi đây.
 
Cảnh quan khu vực đình
 
Cảnh quan khu vực nghè
Nghè nằm giữa cánh đồng, cây cối um tùm tạo điểm nhấn khi đi từ phía đê xuống.  
Cảnh quan khu vực nghè
 
Đường làng, ngõ xóm
Đường liên thôn vào làng có chiều rộng khoảng 15m, đồng thời cũng là đường Liên Xã, được kết nối ra trục đường Âu Cơ mới được xây dựng với mặt cắt khoẳng 22 đến 25m. 
Cảnh quan đường làng, ngõ xóm
 
Đường trục chính trong làng:
 
 
Có chiều rộng khoảng 5-7m, kết nối thông suốt toàn bộ làng. 2 xe ông tô có thể tránh nhau nếu không bị cản trở bởi vật liệu xây dựng như hiện nay. 
Các ngõ xóm cổ, có bề rộng 2m, được kết nối vào đường trục trong làng theo mạng đường rõ ràng, mạch lạc. Mỗi ngõ được bố trí 2 làng đối lưng vào nhau “gần nhà xa ngõ”.
1.6 Các cảnh quan đặc trưng khác
Bến nước Quan họ: Là một công trình quan trọng đối với làng phục vụ cho việc giao lưu quan họ giữ các làng ven sông cầu. 
 
Bến nước quan họ
 
Bến nước cũ: Hiện đang là nơi chung chuyển vật liệu. Cảnh quan với đường dạo và lũy tre đẹp, có giá trị về cảnh quan
 
Bến nước cũ

Di sản phi vật thể

Bánh khúc làng Diềm

Bánh khúc làng Diềm là sự kết hợp mặn mà của các sản vật thiên nhiên, từ cái dẻo thơm của nếp cái hoa vàng, vị bùi của đỗ xanh, vị béo dậy mùi của thịt ba chỉ,… Tất cả hòa quyện cùng mùi thơm đặc trưng của rau khúc. Mỗi chiếc bánh khúc bên ngoài đều được “đính” bởi những hạt xôi nếp căng mọng, trong trẻo ví như của ngọc thực; kế tiếp là lớp vỏ dẻo xanh; trong cùng mới tới phần nhân bánh mượt miệng; mà phải nóng hổi vừa thổi vừa ăn mới cảm nhận hết hương vị của nó.

 

Bánh khúc làng Diềm có hai loại: Nhân đỗ hoặc hành. Loại nhân đỗ có nhiều đậu xanh vị bùi bùi, thịt ba chỉ miếng béo ngậy và thơm mùi hạt tiêu xay. Loại nhân hành không cơ bản như vậy. Nó khác khác biệt ở chỗ có thêm hành khô, mộc nhĩ, rau răm, tất cả cùng được băm nhỏ trộn với thịt ba chỉ thái hạt lựu.



Hãy gọi chúng tôi để được tư vấn miễn phí
0913 542 332
phcuong39@gmail.com

DI SẢN LÀNG VIỆT

Assoc. Prof. Dr. PHAM HUNG CUONG
Head of Urban and Regional Planning Department
Address: 55 Giaiphong road, Hai Ba Trung Dist, Hanoi, Vietnam
Email: phcuong39@gmail.com/ cuongph@nuce.edu.vn
Mobile: +84 913542332