Làng Nhân Mục (Hà Nam) - SO SÁNH RỐI NƯỚC TẠI NHÂN MỤC VỚI CÁC LÀNG LÂN CẬN

 

 

So sánh đặc điểm nghệ thuật múa rối nước tại làng Nhân Mục với các làng/ vùng lân cận

Hiện nay, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại 14 phường rối truyền thống như: 

- Phường rối Hồng Phong (xã Hồng Phong, Ninh Giang, Hải Dương) 

- Phường rối Bùi Thượng (xã Lê Lợi, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương)

- Phường rối Thanh Hải (xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương)

- Phường rối Chàng Sơn (xã Thạch Thất - Hà Nội) 

- Phường rối Thạch Xá (xã Thạch Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội ) 

- Phường rối Bình Phú (xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Hà Nội) 

- Phường rối Nhân Mục (xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

- Phường rối Nghĩa Trung (huyện Nghĩa Hưng, Nam Định) 

- Phường rối Nam Chấn (xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) 

- Phường rối cạn Nam Giang (Nham Trực, Nam Định) 

- Phường rối Đông Các (xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) 

- Phường rối Nguyên Xá (Xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) 

- Phường rối Đồng Ngư (xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh)

- Phường rối Đào Thục ( xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) 

a. So sánh với nghệ thuật múa rối cạn Bảo Hà

Về nghệ thuật biểu diễn múa rối 

Một trong những tiêu chí phân biệt rối nước, rối cạn, rối trên không là sân khấu diễn. Nếu như rối cạn Bảo Hà vẫn bảo đảm sự giao lưu tình cảm giữa người diễn và người xem qua chiếc mành thì múa rối nước ở làng Nhân Mục người điều khiển quân rối phải ngâm 2/3 thân mình trong nước sau các tấm màn che cửa buồng trò để kéo giật, đưa đẩy… các tấm sào, các dây làm cho quân rối đi lại, cử động ngoài sân khấu. Người điều khiển vừa thấy quân rối của mình hoạt động trước mắt, vừa tiếp nhận và đáp lại những biểu cảm của người xem biểu lộ khi nhân vật hành động. 

Điểm đặc biệt thứ hai của múa rối nước Nhân Mục, đó là những con rối trên sân khấu biểu diễn là do chính tay các nghệ nhân trong phường làm ra, căn cứ vào tích trò sẽ diễn, các nhân vật cần có mà họ sẽ tạo hình nhân vật theo mong muốn của mình. Khuôn mặt vui hay buồn, thiện hay là ác, xấu hay đẹp đều tùy vào người tạc. Chính vì thế mà khuôn mặt rối chính là tâm tư tình cảm, ý tưởng mà các nghệ nhân gửi gắm vào trong đó. Họ thổi hồn cho rối, khiến chúng sinh động, rõ nét và chân thực, có hồn, tạo sức thuyết phục cho vở diễn, bởi người diễn đã hóa thân mình trở thành nhân vật, hiểu được nhân vật của mình. 

Vì con rối ở đây nhỏ, nên mô hình sân khấu cũng sẽ nhỏ. Số lượng khách tối đa là khoảng 50 - 100 người. Thường mỗi vở diễn cần sự góp mặt của 20 nghệ nhân tham gia biểu diễn. 

Về tích và trò trong nghệ thuật múa rối 

Nhắc đến múa rối chúng ta thường nghe tới cụm từ “ tích trò”. Tưởng chừng như chúng là một nhưng trên thực tế tích và trò là hai cách biểu diễn khác nhau trong nghệ thuật múa rối: Tích thường được nhắc tới trong nghệ thuật múa rối cổ truyền, khi biểu diễn các vở diễn cổ. Tích đi kèm với những điệu hát chèo, những lời kể chuyện, dẫn dắt nhân vật khi biểu diễn. 

Ngày nay, múa rối sử dụng “trò” nhiều hơn, vì lẽ rằng, trong “trò” các con rối biểu diễn theo điệu nhạc, cũng thỉnh thoảng sẽ có những lời hát đan xen nhưng không nhiều như trong “tích”. Nhạc chỉ mang tính chất phụ họa cho vở diễn thêm phần sinh động, hấp dẫn, tạo nên hiệu ứng âm thanh. Chính “trò” sẽ tạo thuận lợi cho khán giả nước ngoài khi xem múa rối, bởi lẽ, vì bất đồng ngôn ngữ, nếu diễn “tích” thì khán giả không thể hiểu hết được nội dung của vở diễn, làm giảm bớt đi phần nào sự thú vị, nhưng“trò” thì khán giả chỉ cần nhìn theo động tác của nhân vật để hiểu nội dung mà vở diễn muốn truyền tải tới ngườii xem. Chính vì điều này mà khi tổ chức múa rối cạn và múa rối nước phục vụ du khách nước ngoài, các nghệ nhân Bảo Hà và nghệ nhân làng Nhân Mục đều lựa chọn “trò diễn” thay vì “tích diễn”. 

Về nghệ thuật hát chèo trong múa rối 

Để tăng thêm phần hấp dẫn cho vở diễn múa rối, các nghệ nhân sẽ lồng vào trong đó những điệu hát, lời ca mượt mà, đằm thắm của quê hương, đất nước. Vốn cách Thái Bình – cái nôi của nghệ thuật hát chèo chỉ một con sông nên từ xa xưa, cả Bảo Hà và Nhân Mục đều tiếp thu những làn điệu chèo, làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần của nhân dân, để cuộc sống thêm phần tươi mới, lạc quan dẫu còn nhiều khó khăn. Trò diễn lúc bấy giờ là các vở chèo cổ như Quan Âm Thị Kính, Kiều, Trương Viên… 

Tính đến nay, phường rối đã sở hữu 100 con rối các loại và 15 tiết mục thường xuyên. Tùy từng tích trò mà sẽ lồng vào trong đó các làn điệu chèo khác nhau. Múa rối cạn Bảo Hà khi biểu diễn họ có thể vừa hát, vừa điều khiển con rối theo lời hát của mình, khiến người xem thích thú khi “rối hát chèo”, còn múa rối nước Nhân Mục thì có người hát chèo riêng, người điều khiển rối riêng. Thêm một lần nữa, nghệ nhân làng Nhân Mục đã thổi hồn cho rối, khiến chúng từ ban đầu chỉ là những mẩu gỗ vô tri vô giác trở nên sống động như người thật, có thể ca hát, nhảy múa, khuôn mặt biểu cảm sinh động, có thể tự cởi áo, mặc áo, xòe quạt quạt như con người… Điều này càng làm tăng thêm sự mến mộ của người đời với tài năng của những nghệ nhân làng Nhân Mục. 

Về cách tạo hình con rối 

Ở nghệ thuật tạo hình rối Bảo Hà, các nghệ nhân tạo mặt gắn liền với bán thân, nối với bán thân là que trụ (hay còn gọi là que trong). Nếu như múa rối cạn Bảo Hà chỉ cần từ một cái que gỗ là điều khiển được con rối thì múa rối nước Nhân Mục lại sử dụng máy điều khiến và đặt biệt là kĩ xảo điều khiển để tạo nên hành động của quân rối trên sân khấu. Đó chính là mấu chốt của nghệ thuật trình diễn rối nước. Máy điều khiển rối nước sẽ làm di chuyển các quân rối và tạo hoạt động cho nhân vật. Máy được giấu trong lòng nước lợi dụng sức nước để điều khiển từ xa. 

b. So sánh với nghệ thuật múa rối nước làng Nguyễn, Thái Bình

Kỹ thuật, nghệ thuật làm buồng trò, chế tạo, điều khiển quân rối, máy rối

Có thể nói con rối thì hầu hết ở phường nào cũng sử dụng gỗ sung để tạo rối có khác là ở cách làm quân rối bởi sự phát triển của nghệ thuật múa rối không tách rời khỏi việc sáng tạo và cải tiến quân rối. Ở mỗi phường mỗi nghệ nhân đều có những sáng tạo của riêng mình. Quân rối càng hoàn hảo càng giúp cho kỹ xảo của người điều khiển nâng cao và khả năng diễn đạt phong phú hơn. Quân rối Nguyễn xưa nổi tiếng là đẹp, hay, có sơn son thiếp vàng, ít thấm nước, xuống nước là bóng lên do các nghệ nhân tài hoa của làng làm ra. Làng rối Nguyễn hiện nay còn hàng trăm quân rối nhưng trong đó chỉ có 2 quân Tiên và Tễu là được tạo trước 1945, là quân Tễu đẹp nhất của sân khấu rối nước và của ngành rối nước truyền thống Việt Nam. 

Máy điều khiển cũng giữ vai trò hết sức quan trọng trong biểu diễn rối nước. Máy điều khiển là khâu trung gian truyền tải những ý đồ, hành động điều khiển của người diễn viên tới quân rối để chúng có thể cử động. Phường rối Nhân Mục có cả 2 loại máy là máy dây và máy sào. Máy sào tạo sức cân, tác động vào đế quân rối làm quân rối xoay chuyển được toàn thân. Máy dây thì phong phú hơn máy sào, vừa nhiều kiểu độc đáo, vừa năng động, tổng hợp có thể chứa được nhiều quân hơn, có khả năng mở rộng các trò tới các hoạt cảnh. Đây là kiểu máy triển vọng để phát triển nghệ thuật rối nước làng Nhân Mục. 

Ngoài ra, ở hai phường rối còn khác nhau ở buồng trò. Buồng trò rối nước làng Nguyễn xưa không làm theo kiểu cố định như buồng trò của làng Nhân Mục mà làm theo kiểu lưu động, lắp buộc, tháo dỡ, khung bằng tre gỗ, vách bằng phên, vải, mái bằng cót vẽ giả ngói. Mặc dù có thể đem sân khấu đến nơi tùy mong muốn nhưng chính vì vậy cũng mất khá nhiều thời gian và công sức để làm sân khấu mỗi khi biểu diễn. 

Một số trò, tích trò tiêu biểu

Các chương trình tiết mục biểu diễn của rối nước ở các phường rất phong phú gồm nhiều trò lẻ và tích trò. Dù rằng là trò lẻ, hoạt cảnh hay tích trò thì các tiết mục rối nước làng Nguyễn và làng Nhân Mục đều mang ý nghĩa giáo dục và giá trị thẩm mỹ sâu sắc. Các nhân vật không có tên riêng và cũng không có lai lịch rõ ràng mà chỉ xuất hiện trong từng giai đoạn nhất định, một công việc cụ thể. 

Trước Cách mạng tháng 8/1945 gồm có: Trò bật cờ, múa tễu, canh nông, múa tứ linh, múa sư tử, đấu mã, chăn vịt đánh đáo, Đinh Bộ Lĩnh, Thị Màu lên chùa, đua thuyền, Từ Thức nhập thiên thai….Sau Cách mạng tháng 8/1945: Bình dân học vụ, đánh đường 10, đánh trận sông Lô, trâu phá cày, đánh Mỹ Diệm… 

Lời văn và âm nhạc

Cũng giống như nghệ thuật rối nước dân tộc, nghệ thuật rối nước làng Nguyễn và làng Nhân Mục vốn xuất thân từ những trò không lời, thu hút người xem bằng sự kỳ diệu do tài năng của các nghệ nhân tạo hình, nghệ nhân điều kiển tạo nên. Lời văn cũng như âm nhạc mới tham gia vào giai đoạn sau này. 

Một nét điển hình của rối nước làng Nhân Mục là những lời giáo Tễu, đó là những bài văn vần phục vụ kịp thời các dịp biểu diễn ở trong làng, mang tính chất thời sự sâu sắc. 

Âm nhạc không chỉ giữ tiết tấu cho diễn xuất, khuấy động không khí biểu diễn mà nó còn truyền đạt, lay động tới người xem những nội dung, tư tưởng tình cảm nhất định. Đặc điểm chung là nghệ thuật rối nước làng Nguyễn và làng Nhân Mục do được sinh ra trên cái nôi của nghệ thuật chèo truyền thống vì thế 45 các nghệ nhân múa rối ở đây đã biết tận dụng triệt để âm nhạc của chèo. Nhạc cụ gồm có: 

   +  Bộ gõ: Trống đại, trống trung, trống tiểu, thanh la, nạo bạt, mõ, chiêng. 

   +  Bộ hơi: Sáo, kèn (kèn tàu) 

   +  Bộ dây: Hồ, líu, nhị, đàn tranh, đàn tam 

Người xem bị cuốn hút không chỉ bởi những hình ảnh trên sân khấu mà còn bởi những âm thanh rộn rã của tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng sáo (trong các tiết mục bật cờ, múa lân, múa tứ linh). Những làn điệu, khúc nhạc chèo khi vui tươi rộn rã (trong các tiết mục xẩm xoan, tứ quý, lưu thuỷ, sắp qua cầu, sắp cổ phong), khi ngân nga da diết (như các điệu vỉa, ngâm sổng)…Đặc biệt những bài chèo do người nghệ nhân hay những người nông dân sáng tác và biểu diễn rất giản dị và mộc mạc. 

Có người từng nhận xét: Đi xem biểu diễn rối nước ở phường Nhân Mục cứ như đi xem chèo, chỉ có khác chèo là người thật, còn rối nước là người giả. Điều đó càng khẳng định vai trò của âm nhạc rất quan trọng trong sự thành công của nghệ thuật rối nước nơi đây. 

Rối nước chính là sự kết tinh óc sáng tạo, trí thông minh, tài khéo léo của người dân nơi đây qua bao đời tạo nên. Rối nước vốn bình dị như hạt lúa củ khoai, ăn sâu bám chắc vào mảnh đất dân gian, gắn bó chặt chẽ với truyền thống hội hè, đình đám, nó là một nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, rối nước vẫn trường tồn với thời gian, cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nhằm giữ gìn một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và sự yêu nghề của những người dân nơi đây, nghệ thuật rối nước sẽ ngày càng phát triển.

 

 Múa rối nước Nhân Mục

 

Hãy gọi chúng tôi để được tư vấn miễn phí
0913 542 332
phcuong39@gmail.com

DI SẢN LÀNG VIỆT

Assoc. Prof. Dr. PHAM HUNG CUONG
Head of Urban and Regional Planning Department
Address: 55 Giaiphong road, Hai Ba Trung Dist, Hanoi, Vietnam
Email: phcuong39@gmail.com/ cuongph@nuce.edu.vn
Mobile: +84 913542332