Di sản làng Việt là tiềm năng văn hóa to lớn. Cần biến tiềm năng đó thành nguồn lực để phát triển nông thôn Việt Nam bền vững và giàu bản sắc.

Di sản làng Việt là tiềm năng văn hóa to lớn. Cần biến tiềm năng đó thành nguồn lực để phát triển nông thôn Việt Nam bền vững và giàu bản sắc.

Làng Nhân Mục (Hải Phòng) - VĂN HÓA NGHỀ TRUYỀN THỐNG LÀNG NHÂN MỤC

 

 

Lịch sử phát triển nghề truyền thống

Tương truyền múa rối nước làng Nhân Mục có từ năm Nhâm Tý 1911. Thời kỳ đó con giống được làm bằng rơm, rạ, giấy bồi và biểu diễn trên cạn (rối cạn) sau đó các cụ sáng kiến tìm các vật liệu nổi như đào củ chuối khoét hình và tổ chức diễn dưới ao, hồ và rối nước đã xuất phát từ đấy. Sau đó, phường rối được gia đình nhà cụ Ngại ở làng đã học tập nghệ thuật múa rối nước của phường Nguyễn (Thái Bình) và sau đó mời cụ Phấn, cụ Khiêm ở phường Nguyễn sang để xây dựng lại phường rối Nhân Mục, mỗi người gia nhập đóng góp 5 đồng và 3 cân gạo để “thầy ăn, đục quân rối” trong thời gian 3 tháng, sau đó tập và biểu diễn các tiết mục chỉ có: Tễu giáo đầu, tiết mục bật cờ, múa tứ linh, đấu vật, kéo cá… Sau thời kỳ đó do chiến tranh loạn lạc, đời sống khó khăn nên không tổ chức làm và biểu diễn nữa, đến năm 1921 bắt đầu lại từ những con rối cạn (bằng rơm, rạ). Sau 1945 hòa bình được lập lại, phường rối nước làng Nhân Mục đã đi biểu diễn nhiều nơi nhân dịp các hội làng, vinh dự cho phường rối nước Nhân Mục năm 1961 – 1965 được mời đi biểu diễn tại Hà Tây, vườn bách thảo, ngã tư sở (Hà Nội) phục vụ các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại hội nghị biểu dương học tập và làm theo sách (thư viện toàn quốc tại Hà Nội) và được nhiệt liệt hoan nghênh, sự cổ vũ động viên của các đồng chí lãnh đạo, phường rối về tiếp tục dàn dựng thêm một số tiết mục mới như: Tiết mục chồng người, tiết mục múa tiên, tiết mục lân tranh cầu, tiết mục thị mầu lên chùa

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ người dân An Hòa (Nhân Mục ngày nay) tập trung sức người, sức của chiến đấu bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Dưới sự tàn phá của chiến tranh, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, vì vậy nghệ thuật múa rối nước ít được quan tâm và đứng trước nhiều nguy cơ bị thất truyền. Là một người đam mê múa rối nước, ngay từ nhỏ cậu bé Phước – hiện đang là phường trưởng phường rối làng Nhân Mục đã theo ông nội và bố đi biểu diễn ở một số nơi, nhiều khi những con rối còn theo ông vào trong từng bữa ăn, giấc ngủ và ước mơ một ngày được trực tiếp biểu diễn. Ông là người đã dày công tìm tòi, tìm hiểu và nghiên cứu về nghệ thuật múa rối nước tại làng và là người có công lớn trong việc khôi phục nghệ thuật múa rối nước tại làng Nhân Mục, xã Nhân Hòa. 

Từ năm 2000 phường rối được kết nạp là thành viên thứ 12 của Hiệp hội múa rối “UnimaViệt Nam” lúc đó được sự quan tâm của Đảng, chính quyền địa phương và đặc biệt được sự quan tâm của Cục nghệ thuật biểu diễn, Bộ văn hóa thông tin và Hội đồng quản trị quỹ “Unima Việt Nam” hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà thủy đình, đào tạo tay nghề cho anh chị em diễn viên, nhạc công, hỗ trợ kinh phí tạo hình con rối, từ đó phường rối Nhân Mục phát huy khả năng của mình để nâng cao nghệ thuật biểu diễn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước, của địa phương và khách quốc tế nhằm duy trì bảo vệ, quảng bá môn nghệ thuật dân gian truyền thống độc đáo của Việt Nam. Trong quá trình phục vụ và tham gia các hội thi, phường rối nước Nhân Mục đã đạt được những thành tích đáng khích lệ: Năm 2002 được Bộ văn hóa tặng bằng khen Năm 2004 Cục nghệ thuật biểu diễn tặng bằng khen Năm 2005 được Bộ văn hóa thông tin và UBND tỉnh Phú Thọ tặng bằng khen. Phường rối tham gia hội diễn múa rối nước toàn quốc tại Đền Hùng Phú Thọ đã đạt được 3 huy chương vàng, 2 huy chương bạc. Tham gia Festival Huế đã giành 4 huy chuơng vàng và 4 bằng khen. Ngoài ra, được hội văn học dân gian thành phố tặng giấy khen thành tích cho tập thể phường rối nước Nhân Mục.

Hiện nay phường rối Nhân Mục gồm : 18 nghệ nhân, do ông Trần Văn Phước là phường trưởng; ông Nguyễn Văn Luận và ông Nguyễn Văn Tuấn là phường phó; ông Trần Văn Tập là thủy quỹ. Múa rối nước ở làng Nhân Mục thường được diễn vào những ngày nông nhàn khi công vệc đồng áng đã xong, ngày xuân, trong các lễ hội ( 10/3 âm lịch hàng năm). Thông qua các câu chuyện mà các nghệ sĩ rối nước thể hiện người xem cảm nhận được sắc thái của hội làng, gửi gắm vào đó những ước mơ bình dị cho cuộc sống. Do điều kiện tự nhiên và công việc nông nghiệp gần gũi và gắn bó với nước, chính những người nông dân chân lấm tay bùn đã sáng tạo ra nghệ thuật rối nước

Đặc trưng của nghệ thuật múa rối nước tại làng Nhân Mục

Nét độc đáo của nghệ thuật múa rối nước tại làng Nhân Mục

a. Con rối 

Cũng giống như cách làm con rối truyền thống, các con rối làng Nhân Mục được làm từ những loại gỗ nhẹ: vuông, sung, vàng tâm,…những loại gỗ rất thanh mảnh, dẻo dai phù hợp với môi trường nước. Thớ gỗ sung mịn, không có các vết sâu đục, không có mấu và cũng không dễ gẫy. Những nghệ nhân trong làng cắt gỗ lúc gỗ còn tươi cho dễ dàng tạo hình thành những khúc vừa kích thước con rối, bóc vỏ và để cho gỗ khô dần vì các con rối khi bị ngâm nước sẽ dễ bị mục nên phải phơi khô. Sau đó nghệ nhân dùng đục, bát, tỉa để chạm gỗ và nối chân tay rối và nối các máy điều khiển. Cuối cùng con rối sẽ được sơn một lớp sơn ta để chống thấm nước và bền. 

Con rối nước Nhân Mục không mang quần áo để đảm bảo độ bền chắc bên trong và có dáng vẻ bên ngoài cho quân rối. Động tác của của con rối nước chỉ có thể dơ tay, quay trái, quay phải vậy mà khi đưa xuống nước, dưới ánh sáng của lửa sự linh hoạt của các loại pháo sáng các con rối bỗng trở thành trung tâm của sự náo động, bản thân nó chỉ cần nhúc nhích một chút cũng có sự minh họa đầy đủ. Để làm ra một con rối, người thợ phải thực hiện các bước tạc thô như: tạo dáng, tạo khuôn mặt, đẽo tay con rối… Trong đó, tạo khuôn mặt là khâu khó nhất. Khuôn mặt con rối phải đảm bảo có hồn và thể hiện được vai diễn.

Ở làng Nhân Mục có đặc trưng nổi bật là: hình tượng con rối giống với hình tượng của con người ở đời thường hơn. Ví dụ: Ông quan trong vở diễn thì hình nét sắc thái cũng phải chính là ông quan của con người Việt Nam thời phong kiến trước kia chứ không thể là ông quan của người Trung Quốc, hay các vị quan chức ngày nay được… Giống từ nét mặt, cái mũi, bộ râu, kể cả điểm con mắt, hay mũ mão thì phải là sơn son thiếp vàng không như một số đoàn khác, họ chỉ chấm vài cái hoa văn bằng sơn tây vào thành cái mũ cánh chuồn tay

b. Nghệ thuật tạo hình

Việc tạo hình con rối cũng rất đặc sắc, người thợ thông qua truyền nghề trực tiếp, bằng cách quan sát vì trí tưởng tượng tinh tế họ đã nảy sinh những ý tưởng về trò diễn, vở diễn mới và họ tự đục đẽo theo hình mẫu lý tưởng để tạo ra con rối vừa đẹp, vừa mới lạ và đáp ứng được yêu cầu của vở diễn. Tuy nhiên, do phong cách chung của bộ môn nghệ thuật này, cho nên yêu cầu nhất thiết trong khi tạo hình con rối là phải giữ gìn hình dạng màu sắc tranh dân gian. Khi tạo hình, các nghệ nhân luôn chú ý tới việc diễn tả tính cách nhân vật thông qua hình tượng bên ngoài. Căn cứ vào từng tích trò mà nghệ nhân sẽ tạo hình nhân vật cho phù hợp với tích trò ấy. Dần dần, năm này qua năm khác, các nghệ nhân lại bổ sung thêm các tích trò mới, để cho tới bây giờ nghệ thuật múa rối nước ở làng Nhân Mục độc đáo chỉ có duy nhất ở Hải Phòng

c. Sân khấu

Dùng nước làm sân khấu cho quân rối hoạt động là một đặc điểm độc đáo của nghệ thuật múa rối nước. Nước không chỉ là nơi nhân vật làm trò, đóng kịch mà còn là yếu rố cộng sinh, cộng hưởng, cộng minh. Nước vừa cản trở, vừa hỗ trợ, phối hợp. Trên “chiếc gương lỏng này”, những gì là khô cứng, nghèo nàn đều trở nên lung linh, mềm mại, uyển chuyển, duyên dáng. Múa rối nước là nghệ thuật hội hè làng xóm, là sáng tạo bí truyền của từng phường, từng hội, từng nghệ nhân và lưu giữ nhiều hoạt động xã hội, nhiều truyền thống dân gian, nhiều kỹ thuật thô sơ, nhiều nghệ thuật và sinh hoạt tinh thần vật chất của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Sân khấu múa rối nước trình bày những cảnh đời thường ngày, những sinh hoạt dung dị đến ngạc nhiên. Nó cắt nghĩa rõ ràng khả năng và tài năng của một dân tộc sinh sống bằng nghề trồng lúa nước. Sân khấu của rối nước ở làng Nhân Mục là một cái ao của làng, khán đài là bãi cỏ rộng xung quanh đấy rất thuận tiện cho dân chúng thưởng thức, thường thì nhân dân sẽ đứng để xem. Nó cũng được gọi “ là thủy đình” hay “nhà rối” gồm hai tầng, tầng trên được dùng để thờ tổ, tầng dưới được dùng để làm hậu trường có màn che là nơi các nghệ nhân nghâm mình biểu diễn. Sân khấu là khoảng trống trước mặt buồng trò. Buồng trò được trang bị cờ , quạt, voi trượng, cổng hàng mã…

d. Âm nhạc

Vốn cách Thái Bình – cái nôi của nghệ thuật hát chèo chỉ một con sông nên từ xa xưa, làng múa rối nước Nhân Mục đã tiếp thu những làn điệu chèo làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần của nhân dân, để cuộc sống thêm phần tươi mới, lạc quan dẫu còn nhiều khó khăn. Sự kết hợp linh hoạt, nhịp nhàng giữa các hoạt động của con rối với những câu hát chèo vô cùng thú vị, lạ mắt khiến người xem cảm thấy như rối đang hát chèo vậy. Trò diễn lúc bấy giờ là các vở chèo cổ như Quan Âm Thị Kính, Kiều, Trương Viên…

e. Nghệ nhân

Nghệ nhân múa rối chính là người sáng tạo và duy trì nghệ thuật múa rối nước. Nghệ nhân làng Nhân Mục là những người làm ruộng, là những bác nông dân chân lấm tay bùn. Việc ngâm bùn lội nước là cuộc sống hàng ngày của người nông dân không ngoại trừ những con người giản dị chất phát trong làng Nhân Mục và được biểu diễn rối nước là niềm thích thú, niềm đam mê của họ. Với trí óc và bàn tay khéo léo những con rối với những hình dáng, biểu cảm khuôn mặt vô cùng linh hoạt đã được tạo ra. Nghệ nhân rối nước đều là người lớn tuổi họ xem việc duy trì và bảo tồn múa rối nước là cực kỳ quan trọng. Hiện nay đoàn rối Nhân Mục gồm 18 người với đầy đủ các phương tiện kỹ thuật, thường xuyên đi lưu diễn các tỉnh toàn quốc

f. Cách biểu diễn

Điều đặc biệt ở đây không phải là trên khắp cả nước chỉ có làng Nhân Mục mới có múa rối nước, vì theo tổng kết của Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, thì đến nay, ngoài làng Nhân Mục còn có rất nhiều làng múa rối khác ở Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội. Mỗi phường đều có một cách biểu diễn riêng, ở làng Nhân Mục đó là kết hợp của những con rối và làn điệu chèo mộc mạc giản dị, cùng với tinh thần luôn lạc quan, vui vẻ. Sân khấu ở làng Nhân Mục là ao làng – sân khấu múa rối nước truyền thống. Chính cách biểu diễn này làm nên danh tiếng của múa rối nước Nhân Mục.

So sánh đặc điểm nghệ thuật múa rối nước tại làng Nhân Mục với các làng/ vùng lân cận

Hiện nay, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại 14 phường rối truyền thống như:
1) Phường rối Hồng Phong (xã Hồng Phong, Ninh Giang, Hải Dương)
2) Phường rối Bùi Thượng (xã Lê Lợi, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương)
3) Phường rối Thanh Hải (xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương)
4) Phường rối Chàng Sơn (xã Thạch Thất - Hà Nội)
5) Phường rối Thạch Xá (xã Thạch Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội )
6) Phường rối Bình Phú (xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Hà Nội)
7) Phường rối Nhân Mục (xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng)
8) Phường rối Nghĩa Trung (huyện Nghĩa Hưng, Nam Định)
9) Phường rối Nam Chấn (xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định)
10)Phường rối cạn Nam Giang (Nham Trực, Nam Định)
11)Phường rối Đông Các (xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình)
12)Phường rối Nguyên Xá (Xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình)
13)Phường rối Đồng Ngư (xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh)
14)Phường rối Đào Thục ( xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội)
 
So sánh với nghệ thuật múa rối cạn Bảo Hà:
- Về nghệ thuật biểu diễn múa rối
Một trong những tiêu chí phân biệt rối nước, rối cạn, rối trên không là sân khấu diễn. Nếu như rối cạn Bảo Hà vẫn bảo đảm sự giao lưu tình cảm giữa người diễn và người xem qua chiếc mành thì múa rối nước ở làng Nhân Mục người điều khiển quân rối phải ngâm 2/3 thân mình trong nước sau các tấm màn che cửa buồng trò để kéo giật, đưa đẩy… các tấm sào, các dây làm cho quân rối đi lại, cử động ngoài sân khấu. Người điều khiển vừa thấy quân rối của mình hoạt động trước mắt, vừa tiếp nhận và đáp lại những biểu cảm của người xem biểu lộ khi nhân vật hành động.
Điểm đặc biệt thứ hai của múa rối nước Nhân Mục, đó là những con rối trên sân khấu biểu diễn là do chính tay các nghệ nhân trong phường làm ra, căn cứ vào tích trò sẽ diễn, các nhân vật cần có mà họ sẽ tạo hình nhân vật theo mong muốn của mình. Khuôn mặt vui hay buồn, thiện hay là ác, xấu hay đẹp đều tùy vào người tạc. Chính vì thế mà khuôn mặt rối chính là tâm tư tình cảm, ý tưởng mà các nghệ nhân gửi gắm vào trong đó. Họ thổi hồn cho rối, khiến chúng sinh động, rõ nét và chân thực, có hồn, tạo sức thuyết phục cho vở diễn, bởi người diễn đã hóa thân mình trở thành nhân vật, hiểu được nhân vật của mình.
Vì con rối ở đây nhỏ, nên mô hình sân khấu cũng sẽ nhỏ. Số lượng khách tối đa là khoảng 50 - 100 người. Thường mỗi vở diễn cần sự góp mặt của 20 nghệ nhân tham gia biểu diễn.
- Về tích và trò trong nghệ thuật múa rối
Nhắc đến múa rối chúng ta thường nghe tới cụm từ “ tích trò”. Tưởng chừng như chúng là một nhưng trên thực tế tích và trò là hai cách biểu diễn khác nhau trong nghệ thuật múa rối: Tích thường được nhắc tới trong nghệ thuật múa rối cổ truyền, khi biểu diễn các vở diễn cổ. Tích đi kèm với những điệu hát chèo, những lời kể chuyện, dẫn dắt nhân vật khi biểu diễn.
Ngày nay, múa rối sử dụng “trò” nhiều hơn, vì lẽ rằng, trong “trò” các con rối biểu diễn theo điệu nhạc, cũng thỉnh thoảng sẽ có những lời hát đan xen nhưng không nhiều như trong “tích”. Nhạc chỉ mang tính chất phụ họa cho vở diễn thêm phần sinh động, hấp dẫn, tạo nên hiệu ứng âm thanh. Chính “trò” sẽ tạo thuận lợi cho khán giả nước ngoài khi xem múa rối, bởi lẽ, vì bất đồng ngôn ngữ, nếu diễn “tích” thì khán giả không thể hiểu hết được nội dung của vở diễn, làm giảm bớt đi phần nào sự thú vị, nhưng“trò” thì khán giả chỉ cần nhìn theo động tác của nhân vật để hiểu nội dung mà vở diễn muốn truyền tải tới ngườii xem. Chính vì điều này mà khi tổ chức múa rối cạn và múa rối nước phục vụ du khách nước ngoài, các nghệ nhân Bảo Hà và nghệ nhân làng Nhân Mục đều lựa chọn “trò diễn” thay vì “tích diễn”.
- Về nghệ thuật hát chèo trong múa rối
Để tăng thêm phần hấp dẫn cho vở diễn múa rối, các nghệ nhân sẽ lồng vào trong đó những điệu hát, lời ca mượt mà, đằm thắm của quê hương, đất nước. Vốn cách Thái Bình – cái nôi của nghệ thuật hát chèo chỉ một con sông nên từ xa xưa, cả Bảo Hà và Nhân Mục đều tiếp thu những làn điệu chèo, làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần của nhân dân, để cuộc sống thêm phần tươi mới, lạc quan dẫu còn nhiều khó khăn. Trò diễn lúc bấy giờ là các vở chèo cổ như Quan Âm Thị Kính, Kiều, Trương Viên…
Tính đến nay, phường rối đã sở hữu 100 con rối các loại và 15 tiết mục thường xuyên. Tùy từng tích trò mà sẽ lồng vào trong đó các làn điệu chèo khác nhau. Múa rối cạn Bảo Hà khi biểu diễn họ có thể vừa hát, vừa điều khiển con rối theo lời hát của mình, khiến người xem thích thú khi “rối hát chèo”, còn múa rối nước Nhân Mục thì có người hát chèo riêng, người điều khiển rối riêng. Thêm một lần nữa, nghệ nhân làng Nhân Mục đã thổi hồn cho rối, khiến chúng từ ban đầu chỉ là những mẩu gỗ vô tri vô giác trở nên sống động như người thật, có thể ca hát, nhảy múa, khuôn mặt biểu cảm sinh động, có thể tự cởi áo, mặc áo, xòe quạt quạt như con người… Điều này càng làm tăng thêm sự mến mộ của người đời với tài năng của những nghệ nhân làng Nhân Mục.
- Về cách tạo hình con rối
Ở nghệ thuật tạo hình rối Bảo Hà, các nghệ nhân tạo mặt gắn liền với bán thân, nối với bán thân là que trụ (hay còn gọi là que trong). Nếu như múa rối cạn Bảo Hà chỉ cần từ một cái que gỗ là điều khiển được con rối thì múa rối nước Nhân Mục lại sử dụng máy điều khiến và đặt biệt là kĩ xảo điều khiển để tạo nên hành động của quân rối trên sân khấu. Đó chính là mấu chốt của nghệ thuật trình diễn rối nước. Máy điều khiển rối nước sẽ làm di chuyển các quân rối và tạo hoạt động cho nhân vật. Máy được giấu trong lòng nước lợi dụng sức nước để điều khiển từ xa.
 

  

Múa rối nước làng Nhân Mục

 

 

Hãy gọi chúng tôi để được tư vấn
0913 542 332
phcuong39@gmail.com

DI SẢN LÀNG VIỆT

Assoc. Prof. Dr. PHAM HUNG CUONG
Head of Urban and Regional Planning Department
Address: 55 Giaiphong road, Hai Ba Trung Dist, Hanoi, Vietnam
Email: phcuong39@gmail.com/ cuongph@nuce.edu.vn
Mobile: +84 913542332