Làng Cổ Am (Hải Phòng) - DI SẢN TRUYỀN THỐNG LÀNG CỔ AM

 

Cấu trúc làng hiện nay 

Hình thái tổng thể
Hiện trạng hình thái cấu trúc làng Cổ Am
 
Khu dân cư xã Cổ Am có một cấu trúc thống nhất, gắn liền cả xã thành một làng. 
Về thuật ngữ người dân gọi chung khu vực cư trú của xã Cổ Am là làng Cổ Am, ranh giới làng truyền thống không thay đổi nhiều, riêng các các thôn quy mô nhỏ, có sự điều chỉnh tách nhập qua nhiều lần.
Làng Cổ Am dài 2 km từ Đông sang Tây, nằm trên dải cát cổ, cao, chạy dọc tả ngạn sông Hóa cách nơi sông Thái Bình và sông Hóa giao nhau khoảng 4km
Nhìn tổng thể xã Cổ Am có dạng cấu trúc phân nhánh cành cây, có một trục đường chính chạy từ Bắc xuống Nam và một tuyến chạy từ Tây sang Đông (chếch Tây Nam - Đông Bắc) kết nối với xã Tam Cường và xã Vĩnh Tiến, trục chính này giao với tuyến Bắc - Nam thành ngã 4 ở khu vực giữa làng, nơi có các hoạt động buôn bán thương mại. Từ trục đường chính của xã phân chia thành các thôn và xóm. Các trục chính thôn nhỏ và ngắn, các đường xóm ít nối trực tiếp với nhau, hầu hết qua trục chính của làng.
Lối vào chính của xã từ phía Bắc, từ đường Tỉnh lộ 354 đi Tam Cương. 
Địa hình làng nằm trên các gò đất cao hơn đồng ruộng xung quanh. Phía Bắc và nam của làng được bao bọc bởi đồng ruộng. 
Lối vào và trục giao thông chính
Làng Cổ Am có 4 lối vào:
- Lối vào từ phía Bắc, đi quốc lộ 37, qua khu trung tâm hành chính Xã Cổ Am. Là lối vào chính của làng Cổ Am
- Lối vào từ phía Nam, đi quốc lộ 37, từ Thái Bình, qua sông Hóa, tới khu vực cánh đồng chính của làng
- Lối vào từ phía Tây, giáp Xã Tam Cường, qua khu vực Chùa Thiên Hương Tự thuộc Cổ Am và Đình Đông Am thuộc Tam Cường.
- Lối vào từ phía Đông, giáp Xã Vĩnh Tiến, từ trục đường liên xã, qua thôn 5 vào trục chính của làng Cổ Am
Hiện làng Cổ Am không còn cổng làng.
Đường trục chính của làng rộng từ 5 – 7m, 2 làn xe ô tô đi lại thuận tiên. Các đường trong thôn rộng từ 2 – 3m. 
 
Sơ đồ giao thông, mặt nước làng Cổ Am
 
Không gian Trung tâm xã, thôn
Làng Cổ Am có 3 khu vực trung tâm chính, tập trung các công trình công cộng, tôn giáo tín ngưỡng:
- Trung tâm hành chính xã: Nằm trên lối vào chính của làng từ phía Bắc, trên quốc lộ 37, đối diện với Miếu Tràng Linh Tự (Miếu Cây Sanh)
- Trung tâm thể dục thể thao – Sân vận động xã Cổ Am, nằm tại khu vực phía Bắc của Xã, giáp trường tiểu học Cổ Am, đối diện với Chùa Huệ và Đình làng Cổ Am qua trục đường liên Xã (đường Thiên Lý).
- Khu vực trục quốc lộ 37 giao với trục chính của làng, tập trung các công trình nhà ở làm buôn bán, dịch vụ.
Hình thái khu vực nhà ở
Các công trình kiến trúc nhà ở vẫn chủ yêu là nhà thấp tầng, từ 1- 3 tầng, dạng nhà mái ngói 1 tầng phong cách truyền thống còn khá nhiều, chiếm tới khoảng 60 %.  Chỉ có các nhà giáp trục đường chính của làng đang hình thành dần các dạng nhà cao 3-4 tầng, có cửa hàng.
Khu vực ngoài làng
Đồng ruộng chiếm khoảng 60% diện tích toàn xã, nằm chủ yếu ở phía Tây và Bắc. Đồng ruộng bằng phẳng, không nhiều ao, đầm. Công trình truyền thống còn lại là chùa Bến, nằm trong đê bên bờ sông Hóa, chùa đã được phục dựng và tu sửa gần đây. 
Nghĩa trang liệt sỹ Xã Cổ Am, nằm trên trục đường chính của Làng.
Sự biến đổi của cấu trúc làng (từ trước 1954 đến nay)
Nhận xét: Hiện không có các bản đồ cũ để so sánh, tuy nhiên theo phỏng vấn và khảo sát, sự thay đổi về cấu trúc của làng không lớn, không có các thôn mới hình thành gần đây, sự phát triển vẫn cơ bản trong đất làng cũ. Cả 5 thôn đều đã hình thành từ trước 1954. Sự biên đổi nhiều nhất là lũy tre và cổng làng, các cổng đều không còn.
 DI SẢN CẢNH QUAN LÀNG CỔ AM
Nhìn chung cảnh quan làng Cổ Am không còn những tổ hợp cảnh quan truyền thống rõ nét. Đặc trưng nhất là cảnh quan bên trong và xung quanh Chùa Mét (Thiên Hương Tự), cảnh quan bên trong Miếu Cây Sanh và cảnh quan đường làng, ngõ xóm.
Cảnh quan khu vực Chùa Mét (Thiên Hương Tự)
 
Cảnh quan khu vực chùa Mét
 
Chùa Mét nằm tại khu vực phía Tây của làng Cổ Am, giáp với xã Tam Cường, đối diện với Đình Đôm Am của xã Tam Cường qua một ngã ba đường liên xã, xung quanh khu vực phía Đông là cảnh quan đồng ruộng tạo thành một tổng thể không gian tâm đinh đẹp và hài hòa với cảnh quan khu dân cư.
 
Cảnh quan bên trong Chùa Mét
 
Cảnh quan khu vực Chùa Bến
 
Cảnh quan khu vực Chùa Bến
 
Chùa Bến là ngôi chùa nằm cạnh sông Hóa, trong khu vực đồng ruộng của làng Cổ Am, cách biệt với khu dân cư. Về tổng thể, đây là khu vực có cảnh quan đẹp với hình ảnh ngôi chùa nằm một bên sông và cảnh quan đồng ruộng rộng lớn. Bên trong khuôn viên và xung quanh chùa nhiều cây xanh
 
 
Cảnh quan bên trong Chùa Bến
 
Cảnh quan khu vực giáp ranh - làng và ngoài cánh đồng
Làng Cổ Am có hình thái trải dài từ Tây sang Đông với chiều dài khoảng 2000m với khu vực đồng ruộng rộng lớn nằm ở phía Nam của làng, ranh giới vật thể giữa làng và đồng ruộng là một tuyến mương chạy theo chiều dài của làng nối với tuyến mương chính ra sông Hóa.
 
Cảnh quan khu vực giáp ranh - làng và ngoài cánh đồng
 
Đường làng, ngõ xóm
Đường trục xã gồm 4 tuyến đường với tổng chiều dài là 1,54 km. 
Đường trục thôn, liên thôn gồm 5 tuyến đường với tổng chiều dài là 1,96 km. Mặt cắt đường từ 3 – 5 m, bê tông mặt đường có độ dàu mỏng
Đường nội thôn, ngõ xóm có tổng số là 138 tuyến vói tổng chiều dài là 11,54 km. Hệ thống đường đã được cứng hóa bằng bê tông, chiều rộng mặt đường từ 2 – 3 m
Đường trục chính nội đồng có 21 tuyến, với tổng chiều dài là 4,36 km.
 
Cây xanh đặc trưng
Đặc sản nổi tiếng nhất của Cổ Am là thuốc lào. Cây thuốc lào ở đây được đánh giá rất cao về chất lượng, mùi thơm cũng như hương vị, được coi là một trong những vùng đất sản xuất thuốc lào tốt nhất Việt Nam
 
 
Cây thuốc lào Cổ Am
DI SẢN KIẾN TRÚC
Thống kê di sản kiến trúc

Sơ đồ vị trí các công trình di sản, dấu ấn lịch sử làng Cổ Am

Đình Thượng Thọ Giáp 
Đình Thượng được xây dựng trên không gian rộng, cả hồ nước của đình gần 2000 m2. Năm 1961 có phần do chiến tranh và thời gian bị phong hóa, có phần do nhu cầu, Đình được tháo dỡ, sử dụng vật tư làm 400 m2 trường tiểu học cũ. Ngai và bài vị, đồ thờ tại Đình Thượng được di dời về Miếu Tràng.
Đình Tràng Thọ Giáp 
Đình Tràng Thọ Giáp nằm trên địa bàn Thôn 2, được xây dựng giữa thế kỷ 18, trên không gian rộng 2000 m2. Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến sau này, nơi đây được sử dụng làm nơi làm việc của xã, cơ sở dệt vải của thôn Quốc Tuấn. Sau này tháo dỡ, sử dụng làm việc công ích khác.
Miếu Tràng
“Tràng Thọ Linh Tự“ (Xưa thuộc thôn Tràng - thường gọi là Miếu Tràng - có cây Sanh hơn một trăm năm tuổi còn gọi là Miếu Cây Xanh). 
Về tổng thể, miếu Cây Sanh còn giữ được nguyên vẹn tổng thể kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Kiến trúc chính của miếu gồm hai tòa tiền đường, mỗi tòa năm gian, cấu trúc theo kiểu “trùng thềm điệp ốc” và một gian hậu cung luôn đóng kín bởi lớp cửa gỗ chạm thủng hình chữ “thọ” sơn son thếp vàng
Với kiến trúc cổ kính, năm 1998 Miếu Tràng được Bộ văn hóa xếp hạng “Di tích lịch sử kiến trúc cấp quốc gia“
 
 
Miếu Tràng - Tràng Thọ Linh Tự
 
Miếu Tràng - Tràng Thọ Linh Tự trong không gian làng xã
 
Đình chính phần thôn
 
 Ảnh phối cảnh Đình Chính Phần Thôn
 
Đình Phần thờ Thành Hoàng "Khổng Nguyên I quan Thượng Thư dưới triều vua Lý.
Đình Phần xưa có miếu Cả, kiến trúc 3 gian đẹp. Đình Phần nằm trong không gian kiến trúc xưa đẹp nhất làng cổ Am. Phía bắc đình chừng năm mươi mét là chợ cổ cũ, qua đường Thiên Lý là Từ chỉ, phía Tây Từ chỉ là Miếu Cả ; phía Tây đình - liền kề là chùa Huệ (Huệ Hương Tự), liền kề phía Tây Nam đình là Chùa Đông A do cụ Trần Mỹ làm đầu thế kỷ 20, trong chùa cổ non bộ cao chừng chục mét, có đền lập Ban thờ "Đức Thánh Trần“.
 
Đình chính Hà Thôn
Đình Hà có sớm, còn gọi là Đình Đất, vì tường đắp bằng đất, tại đất giáp xóm 4, xóm 5 bây giờ. Đầu thế kỷ 20 Đình được làm mới vào giữa làng văn hóa Gia Cát bằng gạch 5 gian, có hậu cung thờ tượng.
 
Không gian trước Đình
 
Đình Hà có miếu nhỏ thờ thần, phía đông liền kề. Đình thờ danh tướng Phạm Chấn. Dưới thời vua Trần, Phạm Chấn đã cùng tướng quân Trần Ngồi chiến đấu với giặc nhà Minh, lập nhiều chiến công. Khi nhà Hồ tiếm ngôi nhà Trần, Tướng Phạn Chấn về cổ Am ở ẩn và được làng tôn làm Thành Hoàng, làm đình để thờ (tại Cổ Am không có lăng - bia mộ Phạm Chấn hoặc có người thuộc họ này). 
 
Chùa Mét (Thiên Hương Tự)
 
Cảnh quan Chùa Bến từ trên cao
 
Chùa Mét (hay Thiên Hương Tự) được xây dựng từ thời Trần, trải qua nhiều thăng trầm, đến nay dù quy mô không còn được như trước nhưng kiến trúc, hệ thống tượng Phật vẫn còn có giá trị văn hóa, lịch sử và Phật giáo quan trọng trong xã hội. Năm 1407 gia đình Tướng công Trần Khắc Trang từ Hà Nam về lập trang ấp tại rừng Mét (loại thực vật hoang dại ven sông biển khi ấy), nay thuộc địa phận (xóm 1) làng văn hoá Lê Lợi. Tại đây, năm 1412 Cụ dựng chùa, dân trong ( làng thường gọi là Chùa Mét. Trong không gian chung của chùả có nhà thờ tổ họ Trần. 
"Thiên Hương Tự " được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Năm 1998 Bộ văn hoả cấp bằng " công nhận di tích lịch sử kiến trúc cấp quốc gia Thiên Hương Tự nằm trong quần thể di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi Trần Ông Sóc dạy học Nguyễn Binh Khiêm ở đây.
Tại khuôn viên trước sân chùa hiện còn 4 tháp sư tổ giống hệt nhau từ chất liệu, kiểu dáng, quy mô. Các ngôi tháp đều được xây bằng gạch bát, cao 3 tầng với tổng chiều cao khoảng 5m, mặt bằng hình vuông, mái làm kiểu long đình, trên đỉnh đắp nụ sen. Đây là những ngôi tháp cổ được xây dựng vào cuối thế kỷ 18. Mỗi tháp đều có danh riêng. Trong tháp có bia đá ghi pháp danh, tự, hiệu và thân thế, sự nghiệp của các vị thiền sư.
 
Chùa Huệ (Huệ Hương Tự)
Huệ Hương Tự nằm trên địa phận (xóm 4), trong cụm kiến trúc tín ngưỡng sát phía bắc chùa Đông A - Đình Phần - Từ Chì - Miếu Cả.
 
Chùa Huệ - Huệ Hương Tự
 
Chùa Đông A
Thuộc địa phận làng văn hoá Thuận Hoà. Chùa kiến trúc theo lối cổ trên không gian chừng 3000m , có non bộ cao gần chục mét, trước non bộ là hồ bán nguyệt. Non bộ có hang động có bàn thờ Trần Hưng Đạo. Chùa được xây dựng thế kỷ 20, do Thượng Thư Trần Mỹ Tổng đốc tỉnh Thái Bình xây dựng. Trong kháng chiến chổng Mỹ, miền Băc đánh trả máy bay Mỹ, Chùa đã phải tháo gỡ. Từ năm 2000 lại đây hậu duệ của Cụ Trần Mỹ đã và đang được tạo dựng lại.
 
Khuôn viên Chùa Đông A ngày nay
 
Chùa Bến (Phúc Sinh Thiên Tự)
 
Phối cảnh Chùa Bến
 
Chùa nằm sát đê sông Hoá, phía Nam – chếch Đông Nam cuối làng.
Trước đây - nơi đây có đò ngang sang Huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình nhân dân thường gọi là chùa Bến.
Chùa được xây dựng năm 1732. Bài vị thờ Đức ông "Phúc Sinh Long Đức Chính Trung sắc phong Trúp mục Trung đung thượng đẳng thần" và bia đá còn  ghi "Long Đức Lê Thiền Tông Nhâm Tý (1732). 
Chùa được xây dựng hướng tây, Chùa nhìn ra Đầm Đuối, nước đầy quanh năm phục vụ cấy lúa (năm 1971 lấp đầm, nay gọi là Đồng Màu).
 
Nhà thờ 
Theo các thư tịch cổ và văn bia để lại thì ngay từ buổi sơ khai, những người lập nên Cổ Am đều có học thức sâu rộng. Đó là những vị quan lui về ở ẩn, những nhà nho thích cuộc đời thanh đạm. Nền học vấn ở Cổ Am nổi tiếng là cha truyền chữ nghĩa lại cho con chứ không phải thuê thầy về nhà dạy học như ở các làng khác. Vì có đến gần 30 dòng họ nên Cổ Am cũng có nhiều ngôi nhà thờ  lâu năm bề thế. 
     -  Nhà thờ Cổ Chính
Nằm trên địa phận làng văn hoá Minh Khai thuộc chi Trưởng - Ngành cả họ Đào Nguyên. Năm 1870 Trùm giáo Đào Danh Sĩ dựng Thánh đường bằng vật liệu tường đất - tre lá. Năm Đinh Dậu (1897) tôn tạo bằng gỗ, lợp ngói, tường là gỗ bức bàn. Năm Giáp Thân 1944 con thứ cụ Đào Danh Sĩ là Đào Danh Táng mở rộng Thánh Đường xây gạch, vì gỗ, lợp ngói. Năm 1990 đã sửa chữa và tháng 10/2007 trùng tu ; mở rộng không gian sân và đặt tượng Đức Mẹ. 
     -  Nhà thờ Cổ Phái
Nằm trên địa phận làng văn hoá Gia Cát (xóm 5) thuộc một Chi họ Đào Đàng - Mạnh - Trọng. Kiến trúc Thánh đường từ năm 1919 là 3 gian nhà gỗ, lợp ngói, chưa có tháp chuông. Sau đó cụ Đào Trọng Vân và vợ Lê Thị cẩm xây mới, xây cả tháp chuông. Ba gian nhà có trước này là khuôn viên nhà thờ.
     -  Nhà thờ Cổ Trại
Xóm Trại cổ Am, năm 1956 chuyển thuộc thôn Đông Am, xã Tam Cường. Cư dân xóm Trại thời kỳ đầu là người Làng cổ Am chuyển xuống số đông gia đình ở đây theo đạo Thiên Chúa giáo, gồm các gia đình thuộc họ Lê Huy, Đào Bả, Nguyễn Đình. Có Thánh đường, sổ gia đình này nay ở thôn Nam Am, xã Tam Cường, thôn Lôi xã Hoà Bình và ở Sài Gòn.
 
Từ chỉ
Từ Chỉ thờ Khổng Tử (Khổng Nguyên - Trung Quốc) có văn chi nơi dạy học đầu tiên của Làng. Vừa hoạt động tín ngưỡng, vừa hoạt động văn hoá, xã hội của Làng. Hàng năm, đầu xuân làng mở Hội Te - Lễ, mừng " Quan Lão", có rước sách linh đình. Từ còn là nơi sinh hoạt hội họp của bốn thôn Giáp.
Đầu thế kỷ 20 năm Đinh Sửu - từ được nâng cấp mở rộng. Cụ Đào Trọng Kỳ hưng Công cùng bốn thôn giáp đóng góp (nhà gỗ của Từ họ Nguyễn mua về làm nhà thờ Tổ năm 1937).
Năm 1951 khi giặc Pháp chiếm đóng ở thôn Nam Am,"... Chúng đã tháo gỡ Từ và 21 gian Chợ cổ " lấy vật liệu về xây bốt. Nhân dân trong xã đã đấu tranh nhưng không giữ được.
 
Các Ao, Giếng
Làng Cổ Am hiện vẫn còn giữ được hệ thống ao thuộc đất của các hộ gia đình. Nhiều khu vực các ao tập trung tạo thành một mặt nước lớn. Đặc biệt, các ao thường là điểm kết của trục giao thông của xóm, xung quanh là nhà ở của các hộ gia đình, thường từ 5 - 6 hộ, tạo thành cảnh quan đẹp. Các ao hộ gia đình vẫn được sử dụng trong mục đích sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Cảnh quan ao trong làng
 
Nhà cổ 
Nhiều người dân Cổ Am vẫn thích xây nhà theo phong cách cột kèo gỗ, nhà ba gian, năm gian lợp ngói mũi hài… Từ cửa sổ, cửa chính, tất cả đều toát lên nét xưa với then cài bằng gỗ mộc mạc. Cả cánh cổng ra vào sân cũng được làm như cổng ngày xưa bằng phiến gỗ lớn, có vòng sắt thay cho tay nắm.
 
 DI SẢN PHI VẬT THỂ
 
Danh nhân
Thời kỳ nho học nhiều người làng Cổ Am có học hàm, học vị và làm quan. Qua các triều đại phong kiến, việc học hành thi cử tuyển chọn người làm quan rất khắt khe. Nhưng Cổ Am cũng có nhiều người thành đạt, có hai tiến sĩ là Trần Công Hân và Trần Lương Bật và hơn một trăm cử nhân tú tài. Có câu " Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện"  để nói về sự đỗ đạt của người làng, cũng nổi tiếng như làng Hành Thiện. Một số danh nhân tiêu biểu có thể kể đến:
a) Nguyễn Đình Nhượng
Thuộc đời thứ 12 họ Nguyễn, có công đánh giặc Nguyên – Mông (1287 – 1288), vua Trần Nhân Tông phong tước Quận Công Cấm quân thụ lĩnh Đại Thần sinh phủ nghi quan Lương Gia Tiếp Lương Giang tiền chấn. Vua gả con gái, đệ nhất công chúa Trần A Cống và cho đổi họ Nguyễn, mang họ Trần, Trần Quốc Nhượng. Đền thờ ông tại làng Bưởi, Hà Nội.
b) Trần Khắc Trang
Thiên tử nghĩa nam Vũ lâm vệ Trung Lang tướng ty phụng thần vệ sự lĩnh tam tự quân thống lĩnh Bắc ngạn Bộ Quận tướng Công Trần Khắc Trang năm 1407 cùng gia định vợi con từ xã Trần Xá, huyện Nam Xương (Nam Sang) Hà Nam về Cổ Am. Phu nhân (Tổ Mẫu Tỷ Lỗi Thượng Hoàng Cung đại thị mẫu tư cung tư triều tư chẩm tư phục tư đăng Đỗ Quý Thị Ngọc Cực, hiệu thích giả tỷ kỳ phu nhân). Bà đưa nghề trồng dâu nuôi tằm, đệt lụa về Cổ Am.
(Gia đình về Cổ Am thời điểm Nhà Hồ tiếm ngôi Nhà Trần).
c) Trần Lương Bật
Trần Lương Bật hay Trần Hồng Độ đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Giáp – Thìn (1664), có hiệu: “Bồi tòng bộ binh tả thị lang tăng tiến châu quan lộc đại phu hữu thị lang miên khánh nam tướng công”.
d) Trần Công Hân
Đỗ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Quý Sửu (1733). Giữ chức: “Hàn lâm viện thị chế gia tăng công hiển Đại phu Đông các Đại học sĩ Tú Lâm cục nho sinh”.
e) Thế kỷ 18, triều vua Nguyễn
Họ Trịnh có đại tướng quân Trịnh Khắc Oánh
f) Nguyễn Bá Tiến Thọ
Đời thứ 17, họ Nguyễn Bá, đời vua Thần Tông, hiệu Vĩnh Thọ được phong tước: “Phê chuẩn chính quốc thượng thư Nguyễn Tiến Thọ - Vĩnh Lại huyện, Cổ Am thôn, sơ thập tứ nhật bát nguyệt Canh Tý niên” (14-8 đầu Hậu Lê).
g) Vũ Thấu
Đời thứ hai họ Vũ Thế, đỗ cử nhân khoa Mậu Tý (1828), giữ chức lang Trung Bộ hình
h) Đào Trọng Kỳ
Đỗ cử nhân năm Tự Đức thứ 17 (1864) giữ chức Tán – Lý, Tổng đốc Hà – Yên, Tổng đốc Định – Ninh – Thượng thư bộ lại.
 
Nghề truyền thống 
Cổ Am có nhiều nghề truyền thống như: 
-  Nghề dệt vải sợi bông (dệt tay - khung con cú) khổ rộng 27cm, sau 33cm (năm 1950 về sau dệt vải diềm bâu khổ rộng 0,80m - khăn mặt). Nghề dệt tiếp nổi nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa của phu nhân Trần Khắc Trang là Đỗ Thị Ngọc Cực từ năm 1407 khi gia đình tù Hà Nam về cổ Am.
- Nghề mộc do cụ Đào Trọng vấn (ông nội ông Đào Trọng Giữa xóm 2) đưa về từ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Trong lao động đã đào tạo được đội ngũ thợ giỏi, thi công làm đình, chùa được
- Nghề sơn cụ Đào Viết Cường (họ Đào Nguyên đời thứ 9) đã đưa nghề về đầu thế kỳ 19
- Nghề nề do cụ Đào Bá cắng đưa về cuối thế kỷ 19, đầu thế kỳ 20 được lưu truyền đến hôm nay, có gần chục đội thợ có tay nghề cao.
- Nghề mộc - nề và sơn mài đều có mối liên hệ trực tiếp lẫn nhau, mộc và Ị nề khép kín trong xây dựng và ngày ấy đã tôn tạo mờ rộng Miếu Tràng - Đình Phần như hiện nay ; nghề mộc và sơn làm đồ thờ, sau này là sơn Mài xuất khẩu.
- Đầu thế kỷ 20 hình thành buôn bán nhỏ (ở cổ Am đi thường là Vải cồ - thuốc lào, ngược lại là hàng hoá lâm sản.v.v...) chợ gần, chợ xa, ra phố, có gia đình mở hiệu ở Hà Nội, Sài Gòn.v.v. 11.
Chăm lo việc học hành cho lớp tuổi trẻ, được nhiều gia đình dòng họ quan Ị tâm, để có trí thức, lao động có kỹ năng ; qua đó tạo ra vị thế xã hội. Hàng trăm Ịcụ khoá " cắp tráp " đi dạy học ờ nhiều nơi. Không ít cụ đã lập gia thất và cư trú Inơi dạy học đến giờ, nhiều con cháu các cụ đã tìm lại cội nguồn...
Ngày nay, nền kinh tế phát triển, máy móc hiện đại, nghề truyền thống khác dần bị mai một chỉ có nghề mộc còn tồn tại đến ngày nay.
 
Các phong tục, tập quán tiêu biểu
Hoạt động lễ hội: đầu năm hàng năm truớc khi làng mở hội, các thôn Giáp tổ chức tế Thánh - tế Thần... Vào ngày mồng 2 mồng 3 tết, tổ chức mừng thọ (ngày quan Lão). Đen ngày mồng 6 tết tổ chức rước ra Từ Chỉ - hoặc Miếu hợp tế cả Làng và Làng tổ chức mừng " Quan Lão Các chức sắc từng thôn Giáp và của Làng ngồi "hát mừng" Quan Lão ", ăn uống cỏ khi hết tháng Giêng mới giã đám. 
 
Lễ hội làng Cổ Am
 
Tục khao thọ (mừng thọ) là tục lệ khá đặc biệt của làng. Hình thành từ đầu thế kỷ 17 được lưu truyền đến hôm nay. Thời phong kiến chỉ có Lão ông, có chức tước xã nhiêu - xã nhưng - Hương - Lý trở lên. Đen tuổi 55 có lễ nhỏ trình làng (gọi là trình hạng - lão hạng) khi tuổi tròn 60 được tổ chức mừng thọ cùng Làng. Sau đó cứ tuổi 70 - 80 tiếp tục mừng thọ, ai cao tuổi nhất làng hưởng tiên chi Lão.
 
 
Hãy gọi chúng tôi để được tư vấn miễn phí
0913 542 332
phcuong39@gmail.com

DI SẢN LÀNG VIỆT

Assoc. Prof. Dr. PHAM HUNG CUONG
Head of Urban and Regional Planning Department
Address: 55 Giaiphong road, Hai Ba Trung Dist, Hanoi, Vietnam
Email: phcuong39@gmail.com/ cuongph@nuce.edu.vn
Mobile: +84 913542332

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM